Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Phần 3. Đặc điểm địa bàn và Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5.
Kết luận và Kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 2. Khái niệm và phân loại luận về quản lý nợ - Khái niệm: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý”.
Từ khái niệm chung này cho thấy, việc phân loại doanh nghiệp, tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà người ta phân ra các loại doanh nghiệp khác nhau. Theo ngành kinh tế có thể chia ra doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp thương mại dịch vụ … - Phân loại: Theo quy định của Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các loại hình: Công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn (1 thành viên hoặc từ 2 thành viên trở lên), công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã. Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Một là, doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường hoạt động rất có hiệu quả về hiệu suất sử dụng vốn. Tính chất của sở hữu tư về vốn là động lực mạnh để các chủ doanh nghiệp luôn tìm đến ngành nghề kinh doanh có suất lợi nhuận cao, địa điểm đặt doanh nghiệp thuận lợi, lựa chọn phương thức kinh doanh hợp lý và chú trọng việc xây dựng các quan hệ thị trường, quan hệ xã hội có liên quan đến kinh doanh.
Song, cũng vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi cách, khu vực tư cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề đi ngược với lợi ích nhà nước và lợi ích xã hội. - Hai là, doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta phần đông là có quy mô nhỏ và vừa. Ưu điểm của loại quy mô này là dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh. doanh nghiệp ngoài quốc doanh có mặt trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề không thuộc danh mục cấm, và có thể được đặt ở bất kỳ địa bàn nào, thậm chí không ít doanh nghiệp ngoài quốc doanh đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh ngay tại nhà dân.
Việc theo dõi, quản lý các DN này vì thế cũng có những yêu cầu riêng. 4 - Ba là, tốc độ chuyển thể của các doanh nghiệp này rất nhanh. Tính sở hữu tư cho phép DN nhanh chóng ra quyết định một cách độc lập. Vì vậy, doanh nghiệp ngoài quốc doanh dễ dàng tham gia hay rút khỏi thị trường, DN cũng có thể được thuyên chuyển, giải thể hay tuyên bố phá sản bất cứ lúc nào, thậm chí lặng lẽ "biến mất".
Đây là một trong những nguy cơ cho các quan hệ tài chính. Những khoản vốn vay được thế chấp bởi dàn máy móc lạc hậu, đơn giản hoặc những khoản nợ thuế, v.v gần như khó được bảo đảm. - Bốn là, nhân công mà doanh nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng thường là nguồn lao động không thường xuyên. Ngoài việc các quy chế về bảo hộ lao động, bảo hiểm không được thực hiện, NSNN còn thất thu thuế thu nhập cá nhân của người lao động ở khu vực này do các hoạt động kinh doanh ở phần lớn các DN không được phản ánh đầy đủ qua hệ thống sổ sách kế toán.
Có thể nói, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là lực lượng sản xuất kinh doanh có hiệu quả ngay cả ở những nơi hẻo lánh, hay trong những thời kỳ khó khăn của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn chiếm tỷ trọng áp đảo. Mức độ biến động của khu vực này cũng rất nhanh cả về số lượng, quy mô hay tốc độ rút khỏi thị trường. Quản lý nhà nước nói chung, quản lý thuế nói riêng đối với khu vực này vì thế cần được luôn điều chỉnh để theo kịp sự phát triển của thực tiễn.
Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện trên các mặt chủ yếu sau: - Thứ nhất, động viên tối đa mọi nguồn lực cho mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Bởi doanh nghiệp ngoài quốc doanh là loại hình doanh nghiệp phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế. Trong thời kỳ đổi mới của đất nước giai đoạn vừa qua (từ 1991 đến nay) cho thấy, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là động lực phát triển cho nền kinh tế đất nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh với quy mô nhỏ và vừa, với mức độ đầu tư không lớn, linh hoạt, rất phù hợp cho phát triển kinh tế dân doanh. - Thứ hai, doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh là phương thức tạo việc làm, thu nhập tại chỗ hữu hiệu cho người dân.
Đầu tư cho một chỗ làm việc trong các doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài 5 quốc doanh rất thấp so với doanh nghiệp Nhà ước. Mỗi năm chúng ta có thêm khoảng hơn 1 triệu người lao động mới, nếu không có khu vực tư nhân thì chắc chắn vấn đề công ăn việc làm, một vấn đề cốt lỏi của xã hội, sẽ không thể được giải quyết thỏa đáng. - Thứ ba, doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện sự bổ sung hoàn hảo cho thị trường Do những tiêu chí chuẩn mực trong tổ chức kinh doanh, và thường có quy mô lớn, các DN có vốn nhà nước hoặc DN có vốn nước ngoài thường nhắm tới những mục tiêu lớn. Trong khi đó, những phân đoạn thị trường nhỏ, có suất lợi nhuận không cao còn bỏ ngỏ.
Đó là cơ hội cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với tính linh hoạt trong việc ra quyết định. Đến lượt nó, doanh nghiệp ngoài quốc doanh lấp đầy những khoảng trống trên các thị trường ngách, đến tận những địa bàn xa xôi. Không những thế, doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn làm vệ tinh cho các Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hay Doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài (DN FDI) trong một số công đoạn sản xuất, từ khâu thu gom nguyên liệu, sơ chế nguyên liệu để cung cấp cho các nhà sản xuất lớn. - Thứ tư, doanh nghiệp NQD có những đóng góp to lớn cho NSNN thông qua việc đóng thuế về các hoạt động kinh doanh.
Do tính chất linh hoạt về vốn, về hình thức tổ chức, về quy mô và phương thức kinh doanh của loại hình này, doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trên mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi địa bàn. Nhờ đó, thuế từ khu vực này là nguồn thu lớn cho các cấp ngân sách. - Thứ năm, doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần tích cực vào việc thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền. Nhờ sự phân bố rộng khắp của loại hình này, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, giảm phân hoá vùng miền, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Loại hình doanh nghiệp này có vai trò quan trọng đặc biệt đối với người dân ở nông thôn, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn và có vai trò quan trọng trong việc thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên linh hoạt, dễ thích ứng với những biến động của kinh tế toàn cầu. Có thể nói, trong khi đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế, xã 6 hội, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã khởi đầu một phản ứng dây chuyền về sản xuất, lưu thông hàng hóa, giải quyết việc làm, góp phần ổn định xã hội, và cuối cùng doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng góp phần to lớn trong tổng thu thuế nói chung, thuế nội địa nói riêng, chưa kể đến tác động thứ phát về số thu thuế TN cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp. Cơ sở lý luận về nợ thuế 2. Khái niệm Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN.
Ví dụ như, theo Luật Quản lý thuế ban hành và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2007 thì thời hạn nộp đối với thuế Giá trị gia tăng là ngày 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế. sau thời hạn nộp này, nếu người nộp thuế chưa nộp thuế vào ngân sách nhà nước thì được coi là nợ thuế. Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định. Khoản nợ là số tiền thuế bắt đầu được tính nợ hay được gọi là bắt đầu phát sinh tiền thuế nợ.
Chẳng hạn như tại một thời điểm, một người nộp thuế nợ 1 tỷ đồng tiền thuế thì cơ quan thuế có trách nhiệm xem xét số thuế nợ đó là nợ của những lần phát sinh nào, loại thuế nào? Chẳng hạn như nợ 3 khoản thuế GTGT, nợ 1 khoản thuế TNDN. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp thu nợ hiệu quả đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước sau khi áp dụng các biện pháp đó. Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ. Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động.
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày khoản nợ được nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác.