Chương 1 : Lý luận chung về quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Chương 2 : Thực trạng công tác quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Chương 3 : Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ 3 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỢ NƢỚC NGOÀI CỦA CHÍNH PHỦ 1.1 Tổng quan về nợ nƣớc ngoài của Chính phủ 1. Khái niệm Luật Quản lý nợ công năm 2009 định nghĩa, “Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ”. Theo nghĩa hẹp, nợ nước ngoài của Chính phủ là những khoản nợ được hình thành từ việc Chính phủ trực tiếp đi vay của các chủ thể quốc tế.
Chính phủ có thể đi vay thương mại hoặc vay ưu đãi“của các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủ các nước,”các ngân hàng thương mại quốc tế, các quỹ đầu tư quốc tế, các chủ thể kinh tế và các cá nhân không cư trú. Khi đi vay, Chính phủ có trách nhiệm phải hoàn trả cả vốn gốc,‟lãi và các chi‟phí khác phát‟sinh khi vay nợ. Theo nghĩa rộng,“nợ„nước ngoài‟của Chính phủ”bao gồm: Nợ do Chính phủ trực tiếp vay trên trường quốc tế; Nợ do Chính phủ (hoặc các cơ quan được Chính phủ ủy quyền) bảo lãnh cho các tổ chức và cá nhân vay của các chủ thể không cư trú;“Nợ của các cấp chính quyền địa phương vay trên trường quốc tế.”Hiện nay, hầu hết các‟Chính phủ và‟các tổ chức‟quốc tế‟đều sử dụng khái niệm nợ nước ngoài của Chính phủ theo quan niệm này,“bởi nghĩa vụ trả nợ cuối cùng của các khoản vay này trở thành bắt buộc với Chính phủ.”Tất nhiên, đối với các khoản nợ của các cấp chính‟quyền địa‟phương và các chủ thể khác vay có sự bảo lãnh của Chính phủ thì trách nhiệm trả nợ trực tiếp thuộc về các chủ thể vay nợ. Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm là người trả nợ cuối cùng - đứng ra trả nợ thay cho các chủ thể vay nợ - khi các chủ thể gặp khó khăn và trong những điều kiện nhất định.2 Vai trò của nợ nước ngoài 1.1 Đối với quốc gia vay nợ -“Đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư” Vốn vay“nước ngoài‟đóng vai trò là một‟nguồn‟bổ„sung cho nguồn vốn phát triển‟kinh tế - xã hội của mỗi quốc‟gia, đặc biệt với các nước đang phát triển luôn trong tình trạng thiếu hụt về vốn.”Việc đi vay nước‟ngoài, một quốc gia có cơ hội đầu tư phát triển ở mức cao hơn.“Tuy nhiên, việc vay‟vốn nước‟ngoài chỉ có thể có hiệu lực nếu việc vay‟nợ không ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền‟kinh tế‟trong nước và tiêu dùng của thế hệ tương lai.
-“Góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý” Bên cạnh“nguồn vốn tự có, việc vay vốn nước ngoài giúp bổ sung nguồn lực để nhập khẩu các máy móc, thiết bị hiện đại công nghệ tiên tiến cùng với kỹ năng quản lý hiệu quả từ nước ngoài là điều cần thiết. Các dự án góp phần hiện đại hóa nhiều ngành, lĩnh vực, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác chuyển đổi theo. Các dự án hợp tác với các đối tác nước ngoài tạo ra rất nhiều cơ hội để phát triển và đào tạo cho lực lượng cán bộ góp phần nâng cao năng lực quản lý của toàn bộ nền kinh tế xã hội. -“Ổn định tiêu dùng trong nước” Khi‟có những “cú sốc” đột ngột‟giáng vào‟nền kinh tế, sản lượng‟bị thiếu hụt‟nặng nề, tiêu dùng‟trong nước suy giảm nghiêm trọng.
Ví dụ như ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng‟tài chính hay thiên tai bất ngờ làm cho nền kinh tế cạn kiệt, trong những trường hợp như vậy, bên cạnh‟các khoản‟viện trợ‟quốc tế thì vay nợ‟nước ngoài đóng vai trò là biện pháp góp phần ổn định tiêu dùng trong nước trong ngắn hạn, trong khi nền kinh tế dần đang hồi phục. -“Bù đắp cán cân thanh toán” Cán cân thanh toán của một nước”có thể rơi vào tình trạng thâm hụt do nhiều nguyên nhân bất lợi như giá hàng xuất khẩu giảm, nước ngoài áp dụng các biện pháp thuế quan và phi“thuế quan đối với các mặt hàng nhập khẩu,” khi đó, quốc gia 5 thâm hụt cán cân thanh toán“có thể sử dụng biện pháp vay nợ nước ngoài để bù đắp phần thâm hụt này.”Tuy nhiên,“giải pháp này thường có rủi ro cao, vì các nước đi vay có thể không có được thu nhập khá hơn khi đến hạn phải trả nợ.2 Đối với quốc gia cho vay và quốc tế - Xuất khẩu vốn“nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn:”Nhờ có hoạt động cho vay nước ngoài mà các nhà đầu tư thích hợp, thu được lợi nhuận cao nhất, tránh được hiện tượng tồn đọng, dư thừa vốn. - Giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư: Cho vay nước ngoài giúp nước cho vay đa dạng hóa các khoản vay của mình, tránh hiện tượng “bỏ trứng vào cùng một rổ”, giảm thiểu được rủi ro đối với quốc gia cho vay. - Nâng cao vị thế kinh tế chính trị của quốc gia cho vay trên trường quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa: Các khoản ODA có thể có điều khoản ràng buộc nhất định, tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia cho vay.
Đó là các ràng buộc về thương mại và chính trị. Xu hướng hiện nay các ràng buộc về chính trị giảm dần, chủ yếu là các ràng buộc về thương mại như để nhận được các khoản vay ODA thì nước tiếp nhận phải nhập khẩu hàng hóa của nước cho vay ở một số lượng nhất định. Các nước giàu khi viện trợ ODA thường gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác cho họ như phải“dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và nhập khẩu hàng hóa nước cho vay.3 Các hình thức vay nợ nước ngoài Việc đi vay“của Chính phủ”có thể được thực hiện thông qua 2 hình thức là“phát hành trái phiếu Chính phủ”và vay trực tiếp.1 Phát hành trái phiếu Chính phủ Theo định nghĩa trong Luật quản lý nợ công thì trái phiếu chính phủ là trái phiếu do Bộ tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư cụ thể. Chính phủ phát hành trái phiếu để vay từ các tổ chức, cá nhân.
Chính phủ phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) sẽ có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán, thêm vào đó còn có thể xảy ra rủi ro về tỷ giá 6 hối đoái. Sự dao động của tỷ giá hối đoái hoàn toàn có thể khiến cho các khoản vay bằng nợ nước ngoài cao hơn dự tính ban đầu của Chính phủ.2 Vay trực tiếp - Vay hỗ trợ phát triển chính thức”(ODA) Theo định nghĩa của“Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển,”“vay hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các chuyển khoản song phương hoặc đa phương trong đó ít nhất 25% là cho không”. Tính ưu đãi của“vay hỗ trợ phát triển chính thức”là ở việc“là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi: ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn. Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại, thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài và thời gian ân hạn dài,”do vậy, đối với các nước đang phát triển đây là“nguồn vốn nước ngoài chủ yếu và được tận dụng tối đa cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước.” - Vay thương mại Vay thương mại“là khoản vay không có ưu đãi cả về lãi suất và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài chính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường.”Vì vậy,‟vay thương mại‟có lãi suất khá cao và chứa dựng nhiều rủi ro.‟Vay thương mại‟của Chính phủ phải cần được cân nhắc hết sức thận trọng và chỉ quyết định vay khi thực sự cần thiết.
- Vay ưu đãi nước ngoài Vay ưu đãi nước ngoài“là khoản vay từ chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, tổ chức chính phủ được chính phủ nước ngoài ủy quyền cho vay tới Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam, có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA. Trong thời gian tới, khi Việt Nam tốt nghiệp IDA, các khoản vay ODA sẽ giảm dần, Việt Nam sẽ phải chuyển sang vay ưu đãi và vay thương mại nước ngoài. 7 “Vay trong nước” Bằng nội tệ Vay các NHTM trong nước Hình thức “vay nợ “Phát hành trái phiế u” Vay trực tiế p của Chính phủ” Bằ ng ngoạ i Vay các thể tệ chế quốc tế Vay ngoài nước Hình 1.1: Các hình thức vay nợ của Chính phủ” Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu 1. Quản lý nợ nƣớc ngoài của Chính phủ 1.
Khái niệm và sự cần thiết của quản lý nợ nước ngoài 1. Khái niệm Xét theo nghĩa rộng,‟việc quản lý‟nợ nước ngoài‟hàm chứa trong nó hệ thống điều hành‟vĩ mô‟sao cho vốn‟nước ngoài‟được sử dụng có hiệu quả và không gia tăng đến mức vượt quá khả năng‟thanh toán‟để không làm tích lũy nợ.”Hay nói cách khác,“quản lý nợ nước ngoài”là bảo đảm„một cơ cấu vốn vay thích hợp‟với các yêu cầu„phát triển của nền‟kinh tế, thực hiện phân bố vốn một cách hợp lý và„kiểm soát‟động thái nợ và sự vật thành vốn vay. Theo cách hiểu chung của cộng đồng tài chính”quốc tế quản lý nợ nước ngoài là một phần của công tác quản lý nền kinh tế vĩ mô. Nó bao gồm việc hoạch định, triển khai, duy trì và từ bỏ các khoản nợ nước ngoài để tạo điều kiện thuận lợi cho 8 tăng cường kinh tế, giảm tình trạng đói nghèo và tiếp tục duy trì sự phát triển mà không tạo ra những khó khăn trong thanh toán”.1 Như vậy,‟quản lý nợ nước‟ngoài”không tách rời‟khỏi„quản lý chính‟sách vĩ mô, quản lý NSNN,‟dự trữ quốc tế và cán cân thanh toán.‟Công tác quản lý nợ nước ngoài đạt được hiệu quả phải có chính sách tốt và thể chế mạnh nhằm điều hành và phối hợp nhịp nhàng với các hoạt động vay mượn.”Quản lý„nợ nước ngoài‟không đơn thuần là vay - trả mà phải là vay - trả sao cho đảm bảo nguồn vốn cho phát triển kinh tế bền vững và an toàn tài chính quốc gia.