Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ xấu trong cho vay thương mại của các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản lý nợ xấu trong cho vay thương mại tại Ngân hàng 7 Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu trong cho vay thương mại tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh. 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TRONG CHO VAY THƢƠNG MẠI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về nợ xấu và quản lý nợ xấu trong cho vay thƣơng mại của các ngân hàng thƣơng mại 1. Các quan điểm về nợ xấu Hiện nay khái niệm về nợ xấu và quản lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại đang có nhiều cách tiếp cận khác nhau xuất phát từ các góc độ nghiên cứu. Về nợ xấu và quản lý nợ xấu sau đây là những quan điểm được thừa nhận rộng rãi hiện nay ở nước ta. - Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Một khoản cho vay được coi là nợ xấu khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ.
Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ. - Theo quan điểm của Ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu: Những khoản nợ không thể thu hồi được : + Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ để đòi bồi thường từ nợ. + Người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ. + Những khoản nợ mà Ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
+ Những khoản nợ mà khách nợ đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. 9 Nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với Ngân hàng để trả và lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi được đầy đủ như : + Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù cho khoản nợ, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng + Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu được gia hạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thoả thuận + Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không có khả năng trả nợ Ngân hàng đầy đủ +Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. - Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tại thông tư số 02/2013/TT-NHNN về việc ban hành “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”, Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước thì nợ xấu được định nghĩa như sau [6,7]: Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) được quy định tại Điều 10 hoặc Điều 11.
Nguyên nhân phát sinh nợ xấu a. Nguyên nhân khách quan Đây là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra tình trạng nợ xấu tại Ngân hàng, tuy nhiên lỗi chính không nằm về phía Ngân hàng. Nhóm nguyên nhân khách quan gồm có: + Môi trường tự nhiên như biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy, khi có thiên tai, dịch họa xảy ra khách hàng cùng Ngân hàng sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án kinh doanh bị đổ bể, doanh nghiệp không có nguồn thu… điều đó đồng nghĩa với Ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình.
+ Môi trường kinh tế xã hội trong nước biến động chịu ảnh hưởng của những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực của nền kinh tế trong đó Ngân hàng là ngành chứa đựng nguy cơ rủi ro lớn nhất. Hơn nữa, biến động thị trường, thay đổi về lãi suất, tỷ giá, ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực cũng gây ra cho các khách hàng những gánh nặng nợ nần không đáng có. + Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và đồng bộ. Một sự thay đổi trong pháp luật sẽ gây ra tác động không nhỏ tới hoạt động của doanh nghiệp.
Ví dụ như một sự thay đổi về sách thuế có thể tác động làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm hoặc làm thua lỗ một dự án. Bên cạnh đó, phải kể đến đó là sự chồng chéo của các văn bản pháp lý. Sự chồng chéo này không những gây ra sự khó khăn cho doanh nghiệp trong việc kinh doanh mà còn gây ra sự khó khăn cho Ngân hàng trong việc xử lý các khoản nợ xấu. + Về phía khách hàng: Nhiều khách hàng có hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, giá thành cao, doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay Ngân hàng nên gặp rủi ro cao, và kết quả là gây thiệt hại lớn cho vốn tín dụng.
Một số khách hàng có hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng, làm hồ sơ giả, sử dụng vốn sai mục đích, vay không có ý định trả nợ. Nguyên nhân chủ quan Đây là nhóm tác động quan trọng đến việc phát sinh nợ xấu. Các Ngân hàng có thể giảm thiểu phát sinh nợ xấu nếu bản thân Ngân hàng chủ động hạn chế tốt các nguyên nhân chủ quan. Các nguyên nhân chủ quan chính bao gồm: + Sự quản lý yếu kém của Ngân hàng trong tất cả các khâu của quá trình cấp tín dụng của NHTM.
Bắt đầu từ giai đoạn trước khi cho vay (không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng, điều kiện cho vay; xem xét, đánh giá khách hàng, khoản vay không kỹ, không tốt), trong giai đoạn giải ngân và trong giai đoạn quản lý khoản vay của khách hàng (không kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, việc kiểm soát, theo dõi danh mục khoản vay không được thực thi một cách có hiệu quả) sẽ dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro tín dụng trong tương lai. Công tác quản lý yếu kém còn thể hiện ở sự tập trung quá mức vào một khu vực khách hàng, thiếu sự điều chỉnh danh mục tín dụng trước những diễn biến kinh tế bất lợi, thiếu chuẩn mực đánh giá khách hàng và những rủi ro đạo đức tiềm năng. Hậu quả là đẩy Ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro nợ xấu. + Quy trình nghiệp vụ Ngân hàng thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ dẫn đến việc khách hàng lợi dụng, lừa đảo chiếm đoạt vốn của Ngân hàng.
Chính sách tín dụng không phù hợp với điều kiện thực tế có thể dẫn đến hậu quả gia tăng nợ xấu. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các NHTM thực hiện chính sách mở rộng tín dụng để chiếm lĩnh thị phần bằng cách đơn giản hóa thủ tục cho vay, hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng sẽ dễ gặp phải rủi ro tín dụng. + Sự yếu kém về trình độ và đạo đức của đội ngũ cán bộ Ngân hàng Cán bộ tín dụng là người trực tiếp giao dịch với khách hàng, nắm bắt đặc điểm cũng như chất lượng khách hàng, khoản vay. Điều này đòi hỏi không chỉ yêu cầu cán bộ tín dụng có kiến thức mà cả về kinh nghiệm làm việc cũng như khả năng phân tích, dự báo.
Một cán bộ tín dụng trình độ yếu kém không đánh giá được hết các khả năng rủi ro liên quan đến khoản vay sẽ dần đến quyết định cho vay sai lầm và nguy cơ phát sinh nợ xấu rất cao. Về mặt lợi ích, khi các nhân viên này với đạo đức kém và bộ phận kiểm soát không phát hiện kịp thời sẽ lợi dụng quyền hạn để có thể cho vay các khoản vay có 12 rủi ro. Họ có thể thực hiện việc này thông qua việc làm sai lệch cách nhìn về báo cáo tài chính và triển vọng của khách hàng. Cũng như là sự sai lệch về giá trị thực của tài sản đảm bảo.3 Tác động của nợ xấu Tác động của nợ xấu đến NHTM Nợ xấu có tác động hầu hết tới các hoạt động của NHTM, thậm chí số dư nợ xấu lớn chứa đựng nguy cơ đổ vỡ hệ thống Ngân hàng.
Thứ nhất, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của các NHTM. Nợ xấu hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, khả năng kinh doanh của NHTM. Khi nợ xấu tăng cao, thu nhập của Ngân hàng giảm, thậm chí không còn lợi nhuận do không thu hồi được nợ, lại phát sinh thêm chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý, xử lý nợ xấu và các chi phí khác liên quan. Thứ hai, nợ xấu làm giảm uy tín của Ngân hàng.
Nếu tỷ lệ nợ xấu quá cao, vượt quá giới hạn an toàn theo thông lệ quốc tế thì uy tín của NTHM trong nước và quốc tế giảm sút nghiêm trọng.