CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Tổng quan về nguồn nhân lực.1 Khái niệm về NNL. NNL (nguồn lực con người) là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của mọi tổ chức, doanh nghiệp trên toàn bộ các quốc gia và vùng lãnh thổ. Tham khảo nhiều nguồn khác nhau, ta có nhiều khái niệm về nguồn nhân lực được trình bày cụ thể như sau: + NNL xã hội: Được xét theo góc độ kinh tế vĩ mô, nghiên cứu sinh đã đưa ra hai khái niệm cụ thể về NNL: + Nguyễn Tiệp (2008), “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”. “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”.
+ Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. + Nguồn nhân lực trong tổ chức: Trong tổ chức, công ty, NNL được định nghĩa theo góc độ vi mô như sau: + Nicholas Henry (2001), “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế -xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”. + Bùi Văn Nhơn (2006), “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. + Zorlu Senyucel (2009), “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai”.
+ Lê Thị Mỹ Linh (2009), “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp”. 7 + Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012), “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. + David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbush (2014) “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai”. + Phạm Văn Sơn (2018), “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người làm việc trong một doanh nghiệp đó bằng trí lực, thể lực và tâm lực của mình.
Những người cùng làm việc trong một doanh nghiệp là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật”. Như vậy, từ những nhận định trên, các khái niệm về NNL trong doanh nghiệp đều có những điểm chung như sau: NNL là đối tượng tham gia những hoạt động của công ty, nằm trong danh sách của doanh nghiệp hoặc công ty đó và cống hiến, làm việc cho công ty. Đồng thời, bao gồm những điều kiện về khả năng lao động, số lượng, chất lượng lao động, trí lực, thể lực và tâm lực của lao động và cùng chung tay vì mục tiêu phát triển công ty. Từ sự phân tích trên, có thể nêu ra khái niệm về nguồn nhân lực như sau: NNL là tất cả những người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình lao động trong các công ty, doanh nghiệp, tổ chức và được thể hiện rõ thông qua số lượng, chất lượng, cơ cấu của công ty, doanh nghiệp, tổ chức đó bao gồm những tiêu chí về chất lượng như: Trí lực, thể lực và tâm lực thuộc khả năng lao động của bản thân mỗi người lao động, vì mục tiêu và xu hướng phát triển của công ty, doanh nghiệp, tổ chức.2 Đặc điểm của nguồn nhân lực.
Cũng tham gia vào quá trình lao động nhưng nguồn nhân lực lại có đặc trưng khác hẳn các nguồn lực sản xuất khác. Đặc trưng của nhân tố nguồn nhân lực được thể hiện cụ thể ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, sức lao động bên trong cơ thể con người. Tiền lương và môi trường làm việc tốt góp phần thúc đẩy sức lao động tiềm ẩn của con người được phát huy hiệu suất tối đa trong công việc. Về tiền lương: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.” Trả lương cho người lao động theo định 8 kỳ đủ để cho người lao động chi trả các hoạt động, sinh hoạt và trang trải cuộc sống, trả lương theo kỳ phổ biến nhất là trả theo từng tháng.
Môi trường làm việc phải năng động, phát minh sáng tạo, khích lệ người lao động làm việc với hiệu suất cao. Thứ hai, kinh nghiệm và kỹ năng của người lao động thay đổi theo nhiều hướng khác nhau. Càng làm việc nhiều, càng có nhiều kinh nghiệm. Kinh nghiệm càng nhiều, kiến thức và kỹ năng càng tăng lên.
Thứ ba, nguồn nhân lực ngày càng biến động Có những nhà quản trị coi nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên vô giá, họ sẽ ứng xử theo nguyên lý tôn trọng con người, nghĩ ra các giải pháp để phát huy sức sáng tạo của con người. Cũng có những nhà quản trị không coi nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng này, họ đối xử với nguồn nhân lực như với các nguồn lực khác, doanh nghiệp đó vẫn có thể tồn tại song khó có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh với kết quả và hiệu quả cao. Lại có những nhà quản trị coi thường nguồn nhân lực, họ sẽ ứng xử theo nguyên lý không tôn trọng con người, tiền lương luôn là giải pháp cuối cùng mà họ tính đến. Có rất nhiều cán bộ các cấp lãnh đạo và quản lý chú trọng và xem nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên vô giá nên đối xử theo cách tôn trọng và lắng nghe nhân viên cấp dưới, luôn nghĩ ra những cách để khuyến khích nhân viên cấp dưới làm việc hiệu quả hơn.
Nhưng cũng có rất nhiều cán bộ các cấp lãnh đạo và quản lý chỉ xem NNL bình thường không khác gì so với những nguồn lực khác thì công ty đó vẫn hoàn toàn có thể sống sót nhưng không đem lại hiệu suất cao trong kinh doanh thương mại. Bên cạnh đó, cũng còn có các nhà quản trị không xem trọng NNL nên không đối tôn trọng con người mà chỉ quan tâm đến tiền lương. Thứ tư, nguồn lao động là thị trường canh tranh. Cạnh tranh là điều chắc chắn sẽ hiện hữu, tồn tại trong bất kỳ môi trường làm việc nào chẳng hạn như cạnh tranh để sử dụng lao động đối với phương diện doanh nghiệp (người sử dụng) và cạnh tranh để kiếm việc làm (đối với người lao động).
Đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam Là nguồn nhân lực trẻ có tỷ lệ nam - nữ khá cân bằng, với quy mô lớn và tăng trưởng hàng năm. 9 Chưa phân bổ hợp lý giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền lãnh thổ, các thành phần kinh tế và giữa các ngành kinh tế. Năng suất lao động và thu nhập thấp. Trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật thấp, bố trí không đều.3 Vai trò của nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Con người là động lực của sự phát triển: Nguồn nhân lực có thể tạo ra mọi thứ tạo ra những máy móc thiết bị và từ đó thể hiện mức độ hiểu biết và chế ngự tự nhiên của con người. Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu tác động của con người như sự điều khiển, kiểm tra thì máy móc hay thiết bị cũng chỉ là vật chất và chẳng thể hoạt động gì hay tồn tại được bền bỉ theo thời gian. Chỉ có tác động của con người mới kích hoạt và đưa máy móc thiết bị vào hoạt động.
Vì vậy, nếu xem nguồn lực là tổng thể các năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất, thì năng lực đó là nội lực của con người. Con người là mục tiêu của sự phát triển Phát triển kinh tế xã hội thực chất là nhằm mục tiêu phục vụ và nâng cao cuộc sống con người, phát triển xã hội ngày càng văn minh. Hay nói cách khác con người là lực lượng tiêu dùng những của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Điều này thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng mà con người là đích đến.
Hơn nữa, sản lượng sản xuất quyết định lượng cung cho tiêu dùng của con người và ngược lại nhu cầu tiêu dùng của con người là cầu tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướng phát triển của sản xuất thông quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường. Khi nhu cầu tiêu dùng hàng hoá tăng lên thì sẽ thu hút lao động để sản xuất ra hàng hoá đó và ngược lại. Qua đó, ta có thể nhận thấy rằng con người là mục tiêu của sự phát triển. Con người đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong sản xuất Con người sáng tạo ra tất cả các loại hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ.
Đồng thời, con người cũng kiểm tra được quá trình sản xuất và kinh doanh. 10 Là một nguồn lực mang tính chiến lược Nguồn nhân tố tri thức của con người chiếm một vị trí quan trọng trong doanh nghiệp, đặc biệt là nhân lực năng động, sáng tạo và công việc vận dụng trí óc Như vậy, con người không những là mục tiêu, động lực của sự phát triển mà còn nhờ vào trí óc để tạo ra những điều kiện và hoàn thiện chính bản thân con người.2 Quản lý nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực. Quản lý nguồn nhân lực doanh nghiệp là quá trình sử dụng con người trong doanh nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động xuyên suốt vòng đời nhân sự như hoạch định nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển NNL để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.2 Vai trò và ý nghĩa của quản lý nguồn nhân lực.