CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM 1.1 Khái niệm, phương pháp và sự cần thiết phải tăng cường Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm 1.1 Khái niệm Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm Thực phẩm (TP) Theo tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế (Codex): "Thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như dược phẩm” Theo Quyết định số 4196/1999/QĐ - BYT trong đó định nghĩa “ Thực phẩm là những đồ ăn, uống của con người ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm". Phạm vi thực phẩm ở đây lại hẹp hơn vì khái niệm này phục vụ cho việc quản lý nhà nước của Bộ Y tế, thuốc lá được quản lý riêng. Hai khái niệm trên có ý nghĩa trong từng thời kỳ khác nhau và ngày càng đầy đủ hơn về chuyên môn. Hiện nay, một khái niệm được nhiều người công nhận hơn cả là: "Thực phẩm là những sản phẩm dùng cho việc ăn, uống của con người ở dạng nguyên liệu tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm".
An toàn thực phẩm (ATTP) ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người; thực phẩm không bị hư hỏng, biến chất, bị giảm chất lượng hoặc chất lượng kém; thực phẩm không chứa các tác nhân hóa học, sinh học hoặc vật lý quá giới hạn cho phép; không phải là sản phẩm của động vật bị bệnh có thể gây hại cho người sử dụng. Trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2012, công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về ATTP là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, được các Bộ ngành ưu tiên hàng đầu để sớm đưa Luật an toàn thực phẩm vào Luan van 11 cuộc sống. Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm; Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP. Trong phạm vi quyền hạn, các Bộ đã ban hành 57 Thông tư hướng dẫn, 29 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia, 67 tiêu chuẩn Quốc gia (TCQG) về ATTP.
Về hệ thống kiểm nghiệm ATTP, hiện nay các Phòng kiểm nghiệm của 6 trung tâm vùng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 3 trung tâm kỹ thuật của Bộ Khoa học và công nghệ, 4 Viện trực thuộc Bộ Y tế và 17 tỉnh, thành phố có Phòng kiểm nghiệm được công nhận ISO/IEC/17025. Việc kiểm nghiệm ATTP thường xuyên được tiến hành định kỳ và đột xuất qua các đợt thanh tra, kiểm tra. Kết quả xét nghiệm vi sinh thực phẩm là chỉ số có độ chính xác trong việc xác định chất lượng VSATTP chế biến bảo quản ngắn ngày và ăn ngay bày bán tại cơ sở thực phẩm. Một số chỉ tiêu vi sinh thực phẩm đơn vị thực hiện được bao gồm: Tổng số vi khuẩn hiếu khí, Coliforms, E.
Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm Để hiểu được khái niệm QLNNN về VSATTP, trước hết cần tìm hiểu thế nào là quản lý. Theo cách tiếp cận thứ nhất: Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt được kết quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ thích hợp. Theo cách tiếp cận thứ hai: Quản lý còn được hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố: Đầu ra, đầu vào, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu. Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau.
Một mặt, chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản phải giải quyết. Mặt khác, chúng ảnh hưởng tới hiệu lực và hiệu quả của quản lý. Quản lý là một hiện tượng khách quan trong mọi hình thái kinh tế - xã hội. Nó là sự tất yếu của lao động tập thể và các hoạt động mang tính cộng đồng, xã hội.
Ngày nay, nhận thức của con người về lợi ích và hiệu quả to lớn của quản lý trong Luan van 12 nền kinh tế nói chung, cũng như trong thương mại nói riêng ngày càng cao. Quản lý trở thành vấn đề trọng tâm trong cải cách kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Ở nước ta trong suốt 20 năm đổi mới vừa qua cũng là thời kỳ tiến hành cải cách kinh tế và thay đổi cơ chế quản lý trên cả tầm vĩ mô và doanh nghiệp. [4] Dựa vào khái niệm trên, có thể định nghĩa: Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức, được thực hiện trên cơ sở để thi hành pháp luật, được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước). Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý [3]. Nhà nước sử dụng quyền lực của mình trong điều hành và quản lý kinh doanh thông qua ban hành và sử dụng các công cụ kế hoạch hóa, chính sách, luật pháp và các quy định khác về kinh doanh để tác động tới các chủ thể người bán, người mua trên thị trường.
Sự tác động của hệ thống quản lý nhà nước về kinh doanh đến đối tượng trao đổi luôn đặt trong mối quan hệ với môi trường cụ thể, xác định trong từng thời kỳ. [4] Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP. QLNN về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, các chiến lược, kế hoạch có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức thực thi các văn bản gồm một số Luan van 13 công việc cụ thể: Tổ chức giáo dục tuyên truyền, công tác thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý…[2]. Phương pháp QLNN về Vệ sinh an toàn thực phẩm Phương pháp quản lý VSATTP của nhà nước là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể của Nhà nước lên hệ thống quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý của Nhà nước.
Trong thực tế tổ chức và quản lý đối với nền kinh tế nói chung và quản lý VSATTP nói riêng, Nhà nước có thể và cần phải thực hiện các biện pháp chủ yếu, đó là: phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục thuyết phục. Phương pháp hành chính Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước thông qua các quyết định dứt khoát và có tính bắt buộc trong khuôn khổ luật pháp lên các chủ thể sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm, nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà nước trong những tình huống nhất định. Phương pháp này mang tính bắt buộc và tính quyền lực. Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng.
Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng thẩm quyền của mình. Thực chất của phương pháp này là sử dụng quyền lực nhà nước để tạo sự phục tùng của các chủ cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trong hoạt động quản lý của nhà nước. Phương pháp hành chính được dùng để điều chỉnh các hành vi mà hậu quả của nó có thể gây ra thiệt hại cho cộng đồng, cho Nhà nước. Trong trường hợp những hành vi này diễn ra khác với ý muốn của Nhà nước, có thể gây ra những nguy hại nghiêm trọng cho xã hội thì Nhà nước phải sử dụng phương pháp cưỡng chế để ngay lập tức đưa hành vi đó tuân theo một chiều hường nhất định, trong khuôn khổ chính sách, pháp luật về kinh tế.
Chẳng hạn, những đơn vị nào kinh Luan van 14 doanh hàng nhái, hàng giả bị Nhà nước phát hiện sẽ phải chịu xử phạt hành chính như: đình chỉ kinh doanh, nộp phạt, tịch thu tài sản… Phương pháp kinh tế Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của Nhà nước, dựa trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn lên các chủ thể là chủ các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thậm chí là người tiêu dùng thực phẩm, nhằm làm cho đối tượng này tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động không bằng cưỡng chế hành chính mà bằng lợi ích, tức là Nhà nước chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đặt ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ. Có thể thấy đây là phương pháp quản lý tốt nhất để thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế. Phương pháp kinh tế đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội qui định nhiệm vụ mục tiêu phù hợp với thực tế.