Mở đầu cuốn "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen", khi bàn về tôn giáo, Các Mác đã viết: "Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người. Cụ thể là: tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội.
Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng là thế giới lộn ngược. Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là lôgic dưới hình thức phổ cập của nó, là point d'honneur*° duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ. Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Do đó, đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái thế giới mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo.
Sự nghèo nàn nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực. Vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của '11 Vãn đé danh dự. 10 chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần.
Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân(1)". Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ khẳng định tôn giáo là một hiện tượng lịch sử xã hội, mà còn khẳng định trong bản thân tôn giáo chứa đựng cả những yếu tố tích cực và tiêu cực. Tôn giáo là cái bổ sung cho sự thiếu hụt trong hiện thực của con người. Nhưng tôn giáo bù đắp sự thiếu hụt của hiện thực bằng hư ảo, tôn giáo xoa dịu nỗi đau của con người bằng thứ thuốc an thần.
Mặt tích cực và tiêu cực của tôn giáo được thể hiện rõ nét trong chức năng "đền bù hư ảo"; song, xét đến cùng, thì sự an ủi mơ hồ, sự giảm đau là tiêu cực, vì nó hạn chế tính tích cực hiện thực của con người. Bởi thế, theo C.Mác, muốn khắc phục tôn giáo trước hết phải cải tạo hiện thực. Đấu tranh chống bọn lợi dụng tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái xã hội sản sinh ra tôn giáo. Trong quản lý nhà nước về các hoạt động tôn giáo (tôn giáo cá nhân và tôn giáo có tổ chức) chúng ta cần đặc biệt chú ý hoạt động của các tôn giáo có tổ chức, khái niệm tôn giáo có tố chức được hiểu như sau: Tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay c.
NXB Chính trị Quốc gia. 11 một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội. - Mê tín, dị đoan (Superstition), là hai khái niệm thường được dùng cặp đôi trong tiếng Việt, để chỉ một niềm tin mù quáng như: bói toán, đồng cốt, gọi hồn, những điểm lạ v. và coi đó là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực xã hội; là những gì trái với lợi ích của xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người tin theo mê muội.
Mê tín không phải là hoàn toàn xa lạ hay đối lập với tôn giáo. Ngoài những khái niệm trên, còn một số khái niệm được sử dụng trong pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Nguồn gốc hình thành Tín ngưỡng, tôn giáo là hiện tượng đã có từ lâu trong đời sống tinh thần của con người, nhưng cho đến nay vẫn chưa có những định nghĩa hoàn chỉnh. Trước hết là vì xuất phát từ những trường phái triết học khác nhau, người ta có những khái niệm và những luận cứ khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo.
Tôn giáo là một phạm trù của ý thức, nhưng là phạm trù rất đặc biệt; bởi vì nó còn là một yếu tố xã hội, yếu tố vãn hoá, có tính không gian, thời gian và quần chúng đông đảo. Trong cộng đồng một tôn giáo cụ thể, tín đồ của tôn giáo đó có thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội, tộc người, ngôn ngữ khác nhau tham gia. Nhà nước nào cũng có một thái độ ứng xử với tôn giáo, thường gọi là chính sách tôn giáo. Nhà nước trong xã hội do giai cấp bóc lột thống trị thường liên kết với các giáo hội.
các tổ chức tôn giáo và lợi dụng nó như một 12 công cụ trong quản lý nhà nước. Ngược lại các tổ chức tôn giáo cũng lợi dụng mọi thời cơ, dựa vào nhà nước và. quyền lực nhà nước để mở rộng ảnh hưởng của mình trong xã hội. Tuỳ theo phong tục, tập quán, lối sống của mỗi cộng đồng dân cư.
mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi khu vực. hình thức biểu hiện của tôn giáo rất đa dạng, phong phú. Hiện nay trên thế giới có hàng trăm tôn giáo, hình thức biểu hiện không giống nhau, rất phức tạp; vì nó phản ánh tâm thức cho từng cộng đồng, cho dù cộng đồng đó có cùng phương thức sản xuất. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, tôn giáo ra đời từ những nguồn gốc cơ bản sau: - Nguồn gốc kinh tế - xã hội.
- Nguồn gốc nhận thức. - Nguồn gốc tâm lý tình cảm. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA TÔN GIÁO 1. Bản chất và tính chất của tôn giáo Tôn giáo là một thành tố của kiến trúc thượng tầng, là một hình thái của ý thức xã hội phản ánh sự tồn tại xã hội.
Song, sự phản ánh đó là: sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc người ta những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ. chỉ là sự phản ánh mà trong đó 13 những sức mạnh ở thế gian đa mang hình thức sức mạnh siêu thế gian(1). Tôn giáo có 3 tính chất cơ bản sau: - Tính lịch sử. - Tính quần chúng.
- Tính chính trị. Vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội Khi nói tới tác động của tôn giáo đối với xã hội con người, C.Mác đã nhận xét như sau: "Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân"(2). Trong lịch sử của loài người, tôn giáo đã từng là một thế lực chính trị hay là chỗ dựa trong những thế lực chính trị khác nhau.
Uy lực của Toà thánh La Mã thời Trung cổ ở châu Âu là dẫn chứng điển hình nhất. Tôn giáo không chỉ chuyên về các vấn đề tinh thần, đạo đức mà còn trực tiếp can dự vào các hoạt động kinh tế, kinh doanh của con người. Dùng uy tín, ảnh hưởng của mình để quyết định các quan hệ sở hữu, ủng hộ dạng " C. NXB Sự thật.
14 hoạt động kinh tế này, phủ nhận dạng hoạt động kinh tế khác. Tôn giáo đã gắn cho các quá trình kinh tế những cơ sở tư tưởng thích ứng với từng thời đại, tạo ra những kích thích về tinh thần cho hoạt động kinh tế và những tiêu chí đạo đức cho hành vi kinh tế trong xã hội. Các dạng tôn giáo khác nhau tự thể hiện mình một cách khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tôn giáo không thể tồn tại nếu chỉ đáp ứng một cách hư ảo khát vọng của con người.
Bởi vậy, cần thấy ở tôn giáo khía cạnh vãn hoá, đạo đức của nó. Chừng nào con người còn sống trong cõi thế gian, họ vẫn còn mong muốn được sống trong một xã hội công bằng, nhân ái. Tôn giáo đã tìm thấy ở đó những chất liệu thật gần gũi với con người nhất, để tạo dựng nên hệ thống luân lý đạo đức của mình. Hệ thống đạo đức, luân lý của những tôn giáo khác nhau vể niềm tin, xa nhau về địa lý, vẫn có một mẫu số chung, đó là nội dung khuyến thiện của hệ thống đạo đức đó.
Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn muốn tìm cái hay trong và ngoài tôn giáo nhằm mục đích duy nhất là đoàn kết mọi người vào việc thực hiện lý tưởng: Độc lập, tự do, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Tư tưởng đó được Bác viết như sau: "Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của 15 nó là phương pháp làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chủ nghĩa yêu nước, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, C.Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị đó".
XU THẾ HIỆN NAY CỦA CÁC TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI Trong tình hình thế giới hiện nay, tuỳ từng nước, từng khu vực, từng dân tộc, quốc gia; diễn biến của các tôn giáo mang những đặc thù cho mỗi khu vực, dân tộc. Trong đó có những xu thế cơ bản sau: 1. Xu thê thê tục hóa Trong quan niệm truyền thống, tôn giáo là cái gì thiêng liêng, cao siêu, huyền bí. vượt qua những hiện tượng trần tục.
Những đáng bậc siêu nhân như: thần, thánh, tiên, phật v. luôn là những khái niệm trung tâm của thần học. Suốt đêm dài Trung cổ, phương Tây bị chìm đắm dưới sự thông trị của chủ nghĩa duy tâm thần học, bất kể luồng tư tưởng mới lạ nào xuất hiện đều bị xem là “tà đạo”, “dị giáo” và lập tức được thiết lập theo 16 “ý Chúa”. Lời của Chúa và Kinh thánh không cần bất cứ sự chứng minh nào cả.
Con người đương nhiên trở thành sinh vật thụ động, chịu mọi sự phán bảo của Chúa. Ngày nay, tình trạng trên chưa phải đã hết, nhưng cũng khác nhiều. Những sự huyễn hoặc, thiếu cơ sở bị nghi ngờ, cách giải thích phi thực tế bị bãi bỏ, những nghi lễ rườm rà, phiền toái bị lên án.