Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUỐC TỊCH TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của quản lý nhà nước về quốc tịch tại Việt Nam 1. Khái niệm quốc tịch, quản lý nhà nước về quốc tịch 1. Khái niệm quốc tịch Quốc tịch là một khái niệm ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa tư bản.
Khái niệm này xuất hiện cùng với tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản. Thông thường, người nào cũng có một tổ quốc và từ khi sinh ra đều mang một quốc tịch nhất định. Đây không chỉ là vấn đề tình cảm và tâm lý mà còn là mối liên hệ giữa cá nhân đó với nhà nước. Mối liên hệ này xác định địa vị pháp lý của họ.
Bởi vậy, thời điểm lịch sử thay đổi dẫn đến khái niệm về quốc tịch, pháp luật về quốc tịch thay đổi. Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, quốc tịch là một chế định pháp lý bao gồm các quy định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ pháp luật được thiết lập giữa cá nhân với một Nhà nước, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Quốc tịch là căn cứ duy nhất xác định công dân của một Nhà nước, là “sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó”. Mỗi quốc gia có một chế định pháp lý khác nhau về quốc tịch, do vậy, Luật quốc tịch mỗi nước quy định cụ thể vấn đề về nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch của mỗi công dân phù hợp với đặc thù của nước đó.
Pháp luật về quốc tịch của mỗi nước có những nội dung khác nhau trong đó có sự thừa nhận sự bình đẳng của các cá nhân với nhau trong mọi lĩnh vực đời sống đảm bảo thực hiện nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật phù hợp với luật quốc tế. Sự quy thuộc về mặt pháp lý trong 7 n vấn đề quốc tịch đồng nghĩa với việc một công dân nhận được các quyền lợi mà nhà nước và pháp luật nước này đảm bảo cho họ được thụ hưởng, đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước đó đối với việc bảo vệ quyền lợi cho cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng dân cư của quốc gia mà họ là công dân, cũng như trong mối quan hệ quốc tế mà người đó tham gia nhân danh chính cá nhân họ. Một yếu tố quan trọng góp phần cấu tạo nên quốc gia là cư dân sống trên lãnh thổ quốc gia và việc tổ chức Nhà nước có mối quan hệ qua lại với cư dân đó. Mỗi quốc gia có những tập hợp dân cư khác nhau và có mối quan hệ cũng rất khác nhau với Nhà nước.
Mối quan hệ phức tạp này trong khoa học pháp lý gọi là quốc tịch. Quốc tịch là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi con người, là mối quan hệ chính trị và pháp lý gắn kết một cá nhân với một nhà nước, là cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ qua lại giữa nhà nước và công dân. Quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và được khẳng định trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948: “Ai cũng có quyền có quốc tịch. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán” (Điều 15 Tuyên ngôn nhân quyền 1948).
Theo từ điển Oxford của Anh: Quốc tịch là sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó. Theo từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì “quốc tịch là sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và cá nhân. Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân là công dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài. Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước và hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước”.
Còn các chuyên gia Mỹ thì cho rằng quốc tịch là một đặc tính phát sinh từ sự kiện quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó. Luật Quốc tịch Lào khẳng định: Quốc tịch Lào thể hiện mối quan hệ pháp luật và chính trị, ràng buộc một 8 n người nào đó với Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và là cơ sở xác định người đó có địa vị là công dân Lào. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đều xác định: Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam. Như vậy, quốc tịch là một khái niệm, một phạm trù chính trị - pháp lý xác định một mối quan hệ giữa cá nhân một con người với một Nhà nước nhất định.
Quan hệ này cho phép xác định con người nào đó là công dân của một nước cụ thể. Mỗi quốc gia có một chế độ pháp lý khác nhau về quốc tịch. Mối liên hệ pháp lý này được biểu hiện ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đó đối với quốc gia mà họ mang quốc tịch và tổng thể quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với công dân của mình. Do vậy, Luật quốc tịch quy định cụ thể về vấn đề nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch, tước quốc tịch.
đối với công dân phù hợp với đặc thù của nước đó. Từ những phân tích nêu trên có thể khái niệm: Quốc tịch là một phạm trù chính trị - pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhất xác định công dân của một Nhà nước và trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Khái niệm quản lý nhà nước: là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội đối ngoại của nhà nước chủ quan của quản lý nhà nước là 9 n tổ chức hay mang quyền lực nhà nước trong quá trình hoạt động tới đối tượng quản lý.
Quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý nhà nước về quốc tịch: là việc các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các chính sách, pháp luật tác động lên các đối tượng có liên quan nhằm điều chỉnh, thực hiện việc bảo hộ công dân của quốc gia mình cũng như làm thay đổi quốc tịch và thay đổi sự bảo hộ của nhà nước tới cá nhân đang mang quốc tịch của quốc gia đó.
Đặc điểm quản lý nhà nước về quốc tịch ở Việt Nam Hoạt động quản lý nhà nước về quốc tịch có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tính chính trị, an ninh, quốc phòng Đây là đặc trưng của quản lý nhà nước về công tác quốc tịch, bảo đảm phục vụ các mục tiêu chính trị, theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực quốc tịch. Ngoài việc đảm bảo ở Việt Nam mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch và hạn chế đối với tình trạng không quốc tịch đối với những người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thì việc quản lý nhà nước đối với vấn đề quốc tịch vẫn phải đảm bảo để tất cả các đối tượng cần phải chấp hành, đi theo các quan điểm chính trị của Đảng cầm quyền, vai trò quản lý của nhà nước và được triển khai thực hiện theo đúng quan điểm chỉ đạo của cơ quan quyền lực cao nhất là Nhà nước. 10 n Thứ hai, tính quyền lực nhà nước Quản lý nhà nước về quốc tịch thể hiện ở các nội dung cơ bản là: chủ thể quản lý có quyền quyết định vấn đề quốc tịch của một cá nhân thông qua việc ban hành Quyết định cá biệt của Chủ tịch nước (cho nhập, cho thôi, cho trở lại, tước quốc tịch Việt Nam, .) trên cơ sở nguyện vọng của cá nhân và đề xuất của cơ quan có thẩm quyền (loại trừ việc tước quốc tịch Việt Nam của một cá nhân trên cơ sở đề xuất của cơ quan nhà nước, không xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của cá nhân đó). Quyết định của Chủ tịch nước thể hiện tính quyền lực nhà nước một cách mạnh mẽ, nó quyết định một cá nhân có phải là công dân Việt Nam đó hay không hoặc người không quốc tịch đang cư trú ổn định tại Việt Nam, chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật của Việt Nam, đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được nhập quốc tịch Việt Nam, có được trở thành công dân Việt Nam, được hưởng sự bảo hộ của Nhà nước Việt Nam, được công nhận về mặt pháp lý là công dân Việt Nam hay không.
Tính quyền lực này mang tính chính trị hết sức rõ nét, bởi nó ảnh hưởng đến cả cá nhân và nhà nước của một quốc gia về cả đối nội và đối ngoại. Công cụ, phương pháp quản lý: Công cụ quản lý nhà nước về quốc tịch được hiểu là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc tịch; phương pháp quản lý là sử dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính mang tính quyền lực nhà nước.