CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước trong phát triển kết cấu hạ tầng gia thông nông thôn. Khái niệm về hạ tầng giao thông nông thôn * Đường giao thông nông thôn Theo Luật Giao thông đường bộ năm 2008 số 23/2008/QH12 [18] quy định Đường giao thông nông thôn (GTNT) bao gồm các tuyến nối tiếp từ hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ đến tận các làng mạc, thôn xóm, ruộng đồng, trang trại, các cơ sở sản xuất, chăn nuôi… phục vụ sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của các địa phương. * Kết cấu hạ tầng Thuật ngữ “Kết cấu hạ tầng” (infrastructure) được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: giao thông vận tải, cấp điện, cấp nước, viễn thông, kiến trúc, xây dựng.
Ngoài ra thuật ngữ “Kết cấu hạ tầng” còn được dùng để chỉ các công trình phục vụ cho các hoạt động trong các lĩnh vực có tính chất xã hội như: các công trình văn hóa, vui chơi giải trí, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế. Đó là các cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho nền kinh tế, được hình thành theo một kết cấu nhất định và có vai trò nền tảng cho hầu hết các hoạt động của đời sống xã hội diễn ra trên đó. Theo nghĩa hẹp, hiểu một cách khái quát, "kết cấu hạ tầng" là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. Theo nghĩa rộng, "Kết cấu hạ tầng" cũng được hiểu là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn ra một cách bình thường.
6 Kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, phân loại theo lĩnh vực kinh tế - xã hội được sử dụng rộng rãi nhất và được phân chia thành: kết cấu hạ tầng kinh tế (hay còn gọi là kết cấu hạ tầng kỹ thuật) và kết cấu hạ tầng xã hội. * Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Có rất nhiều quan niệm khác nhau về KCHTGTĐB, trong phạm vi và cách tiếp cận của đề tài luận văn có thể hiểu khái niệm này theo Luật giao thông đường bộ quy định thì Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là hệ thống những công trình đường bộ, cầu cống, kè gia cố, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ được xây dựng, nhằm đảm bảo cho việc đi lại, đón trả khách, xếp dỡ hàng hóa và vận chuyển hàng hóa, dịch vụ của các loại phương tiện tham gia giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn. Luật Giao thông đường bộ quy định: KCHTGTĐB bao gồm công trình đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ.
Trong đó, công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ; đèn tín hiệu; biển báo hiệu; vạch kẻ đường; cọc tiêu; rào chắn; đảo giao thông; dải phân cách; cột cây số; tường, kè; hệ thống thoát nước; trạm kiểm tra tải trọng xe; trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác. Về mạng lưới giao thông đường bộ hiện nay được chia thành 06 hệ thống là: Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án tập trung chủ yếu vào đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị. Quốc lộ và đường chuyên dùng chỉ nghiên cứu trong mối quan hệ kết nối đường bộ thành mạng lưới giao thông phù hợp.
Riêng đường quốc lộ trong phân cấp quản lý khi có dự án đầu tư chính quyền cấp tỉnh chỉ tham gia khâu giải phóng mặt bằng. Thực tế, trong các loại KCHT giao thông, đường bộ là loại công trình bổ trợ cho tất cả các loại KCHT giao thông khác như đường sắt, hàng không, hàng 7 hải và đường sông. Mạng lưới đường bộ kết nối các cảng biển, cảng hàng không, cảng, bến đường sông, nhà ga đường sắt tạo thành một hệ thống giao thông liên hoàn, thông suốt. Ở nhiều địa phương hệ thống đường bộ kết nối với hệ thống cảng, bến sông và nhà ga đường sắt.
Còn đối với cảng biển, cảng hàng không kết nối qua hệ thống đường quốc lộ, đường sông. Trong hệ thống KCHT kinh tế - xã hội, KCHTGTĐB là bộ phận cấu thành cơ bản và quan trọng nhất. KCHTGTĐB có mặt khắp mọi nơi và có mối quan hệ gắn kết, song hành với các loại KCHT khác như hệ thống cấp điện, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc. kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có đặc trưng là tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ phận của KCHTGTĐB có sự kết nối, gắn kết hài hòa với nhau tạo thành một thể vững chắc, do đó phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống.
Ngoài ra, KCHTGTĐB còn có đặc trưng là thường có quy mô lớn, chủ yếu là ở ngoài trời và được xây dựng rải rác trên phạm vi địa bàn rộng lớn, do đó chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên. Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là các công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ. Nghị định số 33/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Theo Nghị định 33/2020/NĐ-CP ngày 23/4/2020 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác sử dụng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, mọi tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đều được Nhà nước giao cho đối tượng cơ quan được giao quản lý tài sản, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Quản lý nhà nước về tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ được thực hiện thống nhất, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 8 Việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ phải tuân theo cơ chế thị trường, có hiệu quả. Nhà nước khuyến khích thực hiện xã hội hóa nhằm đa dạng hóa nguồn lực để duy trì, phát triển, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ phải công khai, minh bạch; được giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; mọi hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Nghị định quy định, tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ do Nhà nước đầu tư, quản lý (không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp) giao cho cơ quan được giao quản lý tài sản, gồm: Cơ quan được giao quản lý tài sản ở trung ương là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về giao thông đường bộ; ở địa phương là cơ quan giúp UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về giao thông đường bộ; UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; UBND xã, phường, thị trấn. Kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn: Kết cấu hạ tầng giao thông bao gồm: Mạng lưới đường giao thông: Đường liên xã, đường xã và đường thôn xóm, đường trục chính nội đồng, cầu cống, phà trên tuyến. Các cơ sở hạ tầng giao thông ở mức độ thấp (các tuyến đường mòn, đường đất và các cầu cống không cho xe cơ giới đi lại mà chỉ cho phép nguời đi bộ, xe đạp, xe máy … đi lại). Các đường mòn và đường nhỏ cho người đi bộ, xe đạp, xe thồ, xe súc vật kéo, xe máy và đôi khi cho xe lớn hơn, có tốc độ thấp đi lại là một phần mạng lưới giao thông, giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hoá đi lại của người dân.
Khái niệm về quản lý Nhà nước về kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn Khái niệm về quản lý: Theo Lương Xuân Quỳ (2006) [19] Là sự tác 9 động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. Khái niệm về quản lý nhà nước: Cũng theo Lương Xuân Quỳ (2006) [19] Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối…để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Khái niệm về quản lý nhà nước trong phát triển hạ tầng giao thông nông thôn: Theo khái niệm được tác giả Đinh Thị Bích Nga (2016) [15] chỉ ra rằng quản lý nhà nước trong phát triển hạ tầng giao thông nông thôn là sự tác động liên tục, có tổ chức, có mục đích của bộ máy quản lý Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình vào các quá trình, các quan hệ kinh tế - xã hội trong phát triển hạ tầng giao thông nông thôn để đạt được các mục tiêu về kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng vv. trong giai đoạn nhất định.
Đó là công tác lập quy hoạch, kế hoạch phát triển hạ tầng GTNT; xây dựng, chỉ đạo và kiểm tra việc thực thi các chính sách, các quy định và phối hợp các hoạt động khác để đạt được mục tiêu đã đề ra. Chủ thể quản lý ở đây là cơ quan quản lý nhà nước về giao thông nông thôn ở các cấp. Cấp trung ương: Bộ Giao thông vận tải. Cấp tỉnh: UBND tỉnh, Sở Giao thông - Vận tải.
Cấp huyện: Uỷ ban nhân dân huyện, cơ quan chuyên môn. Cấp xã, thị trấn: Uỷ ban nhân dân cấp xã, thị trấn.