Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của VN sang CPC. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác QLNN đối với OFDI của VN sang CPC. Chương 4: Giải pháp tăng cƣờng công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của VN sang CPC.
5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài Luận án Tiến sỹ: “Chiến lƣợc OFDI ra nƣớc ngoài của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Hữu Huy Nhựt, 2011. Trên cơ sở lý luận và các kinh nghiệm đầu tƣ ra nƣớc ngoài của các nƣớc Đông Á, tác giả đã phân tích tình hình và những thuận lợi, khó khăn đối với OFDI ra nƣớc ngoài của Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác giả thực hiện khảo sát đối với một số DN đã đầu tƣ và đang có dự định đầu tƣ ra nƣớc ngoài, từ đó phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của hoạt động OFDI ra nƣớc ngoài của Việt Nam. Đồng thời, đƣa ra các giải pháp mang tính vĩ mô cũng nhƣ vi mô để đẩy mạnh đầu tƣ ra nƣớc ngoài của Việt Nam. Đây cũng là một công trình nghiên cứu khá chi tiết trong lĩnh vực OFDI ra nƣớc ngoài. Song, góc độ tiếp cận của công trình này vẫn chỉ đứng chung chung, các phân tích đa số đứng dƣới góc độ của DN [30].
Luận án Tiến sỹ: “Đầu tƣ của các DN Việt Nam ra nƣớc ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Hải Đăng, 2013, tiếp cận lĩnh vực này dƣới góc độ Kinh tế chính trị. Tác giả phân tích chi tiết hơn tình hình đầu tƣ ra nƣớc ngoài của một số DN cụ thể để thấy đƣợc xu hƣớng đầu tƣ hiện nay của các DN Việt Nam. Tác giả cũng phân tích hoạt động OFDI ra nƣớc ngoài gắn với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Phần giải pháp đã đƣa ra định hƣớng đầu tƣ trọng điểm.
Tuy nhiên, trong công trình này, hầu nhƣ tác giả cũng chỉ đề cập đến hoạt động OFDI dƣới góc độ của DN, chƣa đứng dƣới góc độ QLNN để tiếp cận với lĩnh vực OFDI ra nƣớc ngoài [28]. Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về hoạt động OFDI ra nƣớc ngoài nhƣ: “OFDI ra nƣớc ngoài của các DN Việt Nam” của Ths Phan Tiến Ngọc, 2011; “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả OFDI ra nƣớc ngoài của Việt Nam” của Ths Hoàng Thị Bích Loan, 2011; “OFDI ra nƣớc ngoài của Việt Nam: Thành công 6 và hạn chế” của Ths Đoàn Thanh Nghị, 2012; “Đầu tƣ ra nƣớc ngoài của Việt Nam: vấn đề và giải pháp” của TS. Nguyễn Xuân Dũng, 2010; “Cơ cấu OFDI ra nƣớc ngoài của Việt Nam” của Ths Nguyễn Thị Nhung, 2014; “Một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác thƣơng mại và đầu tƣ Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2013-2020” của TS. Nguyễn Huy Hoàng, 2014; “Đầu tƣ của Việt Nam ở Campuchia từ năm 1993 đến nay: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra” của TS.
Nguyễn Thành Văn, 2015; “Đánh giá tình hình đầu tƣ của DN Việt Nam tại Campuchia”, 2016 của Trần Nam Trung. Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đi vào phân tích thực trạng tình hình hoạt động OFDI ra nƣớc ngoài của các DN VN theo các đối tác nhận đầu tƣ và theo các lĩnh vực đầu tƣ, từ đó đề xuất xây dựng các quan điểm đẩy mạnh hoạt động này, đồng thời dự báo về khả năng OFDI ra nƣớc ngoài của VN. Tuy nhiên, các đề tài, công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc mô tả tình hình đầu tƣ, kết quả của hoạt động đầu tƣ và đƣa ra những thành công, hạn chế của hoạt động đầu tƣ. Về nghiên cứu mang tính tổng hợp các vấn đề lý thuyết, đáng chú ý là nghiên cứu của TS.
Đinh Trọng Thịnh, 2006 với đề tài “Thúc đẩy DN VN đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài”, tác giả đã nghiên cứu tổng quan các lý thuyết về đầu tƣ nƣớc ngoài, hệ thống hóa các chính sách điều chỉnh hoạt động OFDI ra nƣớc ngoài của VN, đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động OFDI ra nƣớc ngoài trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, đề tài này chỉ mang tính tiền đề, đặt dấu mốc cho những nghiên cứu ban đầu về OFDI của các DN VN. Thực tế hoạt động OFDI cũng nhƣ các chính sách về OFDI của VN đã có rất nhiều thay đổi trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến nay [7]. Bài viết “Thúc đẩy hoạt động đầu tƣ từ các tỉnh duyên hải miền Trung vào khu vực tam giác phát triển Campuchia, Lào, Việt Nam: Định hƣớng và giải pháp” của TS.
Nguyễn Đình Hiền, 2013 đã khẳng định liên kết, hợp tác phát triển kinh tế vùng trên phạm vi quốc tế là xu hƣớng ngày càng phổ biến trên thế giới. Cũng theo xu thế đó, chính phủ ba nƣớc Lào, CPC, VN đã thành lập khu vực tam giác phát triển gồm 13 tỉnh có biên giới chung của ba nƣớc vào năm 2004. Tác giả trên cơ sở 7 đánh giá tổng quan về khu vực tam giác phát triển Lào, CPC, VN đã khẳng định cần tiến hành xây dựng chiến lƣợc xúc tiến đầu tƣ vào khu vực tam giác phát triển, cần gắn kết hoạt động đầu tƣ với hoạt động thƣơng mại, du lịch [26]. Về QLNN đối với hoạt động đầu tƣ: Các nghiên cứu về vấn đề này đƣợc đề cập đến trong một số công trình của các tác giả nhƣ Trần Văn Nam, 2000; Nguyễn Thị Mão, 2001; Ngô Hoài Anh, 2006; Ngô Văn Hiền, 2008.
Các nghiên cứu trên đã đề cập về mặt lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý của nhà nƣớc trong lĩnh vực đầu tƣ nƣớc ngoài. Tuy nhiên, các công trình này chƣa đề cập đến QLNN đối với hoạt động OFDI, mới chỉ đề cập đến góc độ đầu tƣ trong nƣớc. Về khía cạnh QLNN trong lĩnh vực OFDI, có nhiều công trình nghiên cứu đã đƣợc thực hiện bởi các chuyên gia kinh tế, đồng thời cũng có nhiều công trình do các cơ quan quản lý thực hiện nhằm đƣa ra những giải pháp cụ thể và hiệu quả cho công tác quản lý hoạt động OFDI. Cụ thể nhƣ: - Cục Đầu tƣ nƣớc ngoài, Bộ KH&ĐT hàng năm đều thực hiện các báo cáo và đánh giá hoạt động OFDI, trình lên Chính phủ, và công bố rộng rãi trên cổng thông tin của Cục Đầu tƣ nƣớc ngoài.
Các báo cáo gần đây nhất bao gồm: “Một số giải pháp thúc đẩy OFDI của Việt Nam” năm 2012; “OFDI của Việt Nam - Thành công và hạn chế” năm 2012; “Báo cáo về đầu tƣ của Việt Nam ra nƣớc ngoài” năm 2013. Trong các báo cáo, bài viết, Cục Đầu tƣ nƣớc ngoài đã đƣa ra nhiều quan điểm và giải pháp nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này. - Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Công thƣơng trong năm 2013 cũng đã tổng kết công tác quản lý liên quan đến hoạt động OFDI, trong đó đánh giá sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN nhƣ Bộ KH&ĐT, Bộ Công thƣơng, đặc biệt là trong khâu hậu kiểm. Tất cả các quan điểm, giải pháp mà các Bộ, Ngành đƣa ra để quản lý hoạt động OFDI đều chỉ đứng dƣới góc độ quản lý của chính Bộ, Ngành đó.
Chính vì vậy, trong nhiều trƣờng hợp, quan điểm quản lý của các Bộ, Ngành không đƣợc sự đồng tình ủng hộ của các DN. Với bài viết “Chính sách thúc đẩy OFDI - Xu hƣớng, kinh nghiệm thế giới và hàm ý cho Việt Nam” của tác giả Lê Xuân Sang, 2011, bài viết “QLNN đối với hoạt 8 động OFDI của Việt Nam” của TS. Phạm Thị Hồng Điệp, 2011 và bài viết “Một số giải pháp thúc đẩy OFDI ở Việt Nam”, 2015 của Trần Nam Trung. Tác giả đã có những đánh giá khá toàn diện về những ƣu điểm cũng nhƣ hạn chế của dòng vốn OFDI, đồng thời chỉ ra các giải pháp quản lý mang tính chất hỗ trợ cho hoạt động OFDI.
Các nghiên cứu trên đã đề cập về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý của nhà nƣớc trong lĩnh vực OFDI, nói chung chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu riêng về công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của VN sang CPC. Những nội dung cần nghiên cứu bổ sung. Nhƣ vậy, điểm qua tình hình nghiên cứu về OFDI, có thể thấy, mặc dù có một vài nghiên cứu và quan điểm của các cá nhân, tổ chức về QLNN đối với hoạt động OFDI. Tuy nhiên, hiện chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào nghiên cứu đến QLNN về OFDI của Việt Nam sang Campuchia một cách tổng thể, phân tích trên các góc độ từ chính sách chung về vĩ mô, đến các chính sách cụ thể áp dụng trong lĩnh vực quản lý OFDI.
Đồng thời, không có một đề tài hoặc công trình nghiên cứu nào trùng lặp với nội dung và phạm vi nghiên cứu của Luận văn. Vì vậy, có thể khẳng định, đề tài: “QLNN về OFDI của Việt Nam sang Campuchia” là đề tài mới. Chính vì vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của Việt Nam sang Campuchia giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2015, luận văn đề ra các giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của Việt Nam sang Campuchia giai đoạn 2016 - 2020. Cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài.
Khái niệm về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Theo WTO: “OFDI xuất hiện khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc tiếp nhận đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Theo IMF đƣa ra năm 1977. “OFDI là số vốn đầu tƣ đƣợc thực hiện để thu đƣợc lợi ích lâu dài trong một DN hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tƣ.
Mục đích của nhà đầu tƣ là giành đƣợc tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý DN đó”. Khái niệm này nhấn mạnh động cơ đầu tƣ và phân biệt FDI với 9 đầu tƣ gián tiếp (Foreign Portfolio Investment). Trong đó, đầu tƣ gián tiếp có đặc trƣng cơ bản là nhằm thu đƣợc lợi nhuận từ việc bán các tài sản, tài chính ở nƣớc ngoài, nhƣng nhà đầu tƣ không quan tâm đến quá trình quản lý DN.