Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu thống kê quốc gia, tính đến năm 2021, cả nước có khoảng 12,57 triệu lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo chuyên môn, chiếm tỷ trọng lên tới 89,97%. Thực trạng này đặt ra thách thức cấp bách trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tại huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định - một trong 62 huyện nghèo của cả nước theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, quy mô dân số ghi nhận 30.956 người với 16.832 người trong độ tuổi lao động, chiếm 54,4% tổng dân số toàn huyện. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Bana, chiếm 29,2% với khoảng 10.030 người. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập, bộ máy quản lý thiếu kinh nghiệm và chương trình dạy nghề chưa bám sát nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Võ Lệ Huyền, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Quang Bình tại Trường Đại học Quy Nhơn, được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề giai đoạn 2017 - 2021, nhận diện các điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giai đoạn 2022 - 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, tạo nền tảng vững chắc để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 47,6% năm 2021 lên trên 55% vào năm 2025, góp phần hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 24,78% xuống dưới 15% và khai thác hiệu quả 67.081 ha đất sản xuất nông - lâm nghiệp tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý luận về quản lý nhà nước đối với nền kinh tế và lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề được tiếp cận theo nghĩa hẹp, là hoạt động chấp hành và điều hành có tổ chức bằng quyền lực công của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm định hướng, thiết lập kỷ cương và phát triển năng lực nghề nghiệp cho người lao động. Tác giả tổng hợp và làm rõ bốn khái niệm cốt lõi bao gồm: nghề nghiệp, đào tạo nghề theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, quản lý nhà nước về đào tạo nghề, cùng đối tượng lao động nông thôn.

Khung nội dung quản lý nhà nước được cấu trúc hóa thành sáu nội dung trọng tâm:

  1. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực thi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục nghề nghiệp.
  2. Kiện toàn tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý từ cấp tỉnh, huyện đến cơ sở.
  3. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm thay đổi nhận thức xã hội về học nghề.
  4. Tổ chức thực thi các chính sách hỗ trợ tài chính theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg và Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg.
  5. Xây dựng chương trình, giáo trình chuẩn hóa và đa dạng hóa hình thức đào tạo nghề.
  6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2017 - 2021 của UBND huyện Vĩnh Thạnh, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện, cùng Niên giám thống kê tỉnh Bình Định. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua điều tra xã hội học với cỡ mẫu 120 phiếu khảo sát, bao gồm 30 cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề và 90 lao động nông thôn đã tham gia học nghề tại các xã Vĩnh Kim, Vĩnh Sơn, Vĩnh Hảo và thị trấn Vĩnh Thạnh.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện nhằm bảo đảm tính đại diện cho các nhóm đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích thực chứng kết hợp phân tích chuẩn tắc, thống kê mô tả và so sánh đối chiếu tỷ lệ tăng trưởng qua các năm. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm phản ánh trung thực, khách quan biến động của các chỉ tiêu đào tạo trong 5 năm, đồng thời đánh giá chính xác mức độ tương thích giữa chính sách công với nhu cầu thực tiễn tại huyện miền núi. Toàn bộ quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành trong timeline từ năm 2017 đến tháng 9 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tại huyện Vĩnh Thạnh tăng trưởng liên tục qua các năm: từ 37% năm 2017 lên 41% năm 2018, đạt 43% năm 2019, 46% năm 2020 và chạm mốc 47,6% vào năm 2021, tương đương mức tăng 10,6% trong toàn giai đoạn.

Thứ hai, tổng quy mô tuyển sinh và đào tạo nghề giai đoạn 2017 - 2020 đạt 871 người. Trong đó, đào tạo trình độ sơ cấp nghề đạt 171 người (chiếm tỷ trọng 19,63%), các chương trình đào tạo nghề dưới 3 tháng và đào tạo thường xuyên đạt 700 người (chiếm tỷ trọng 80,37%). Số lượng học viên tăng trưởng ấn tượng từ 140 người năm 2017 lên 175 người năm 2018, duy trì 175 người năm 2019 và bứt phá lên 381 người năm 2020 (tăng 117,7% so với năm 2019). Tuy nhiên, đến năm 2021, số lượng tuyển sinh giảm về 0 học viên do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19.

Thứ ba, cơ cấu đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ tập trung chủ yếu vào các nhóm yếu thế. Riêng năm 2020, trong 381 học viên có tới 213 người là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 55,9%), 156 người thuộc diện hộ nghèo (chiếm 40,9%) và 12 người thuộc hộ cận nghèo. Hoạt động đào tạo nghề đã trực tiếp hỗ trợ giải quyết việc làm, góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm xuống còn 24,78% vào cuối năm 2021.

Thứ tư, mạng lưới cơ sở đào tạo còn đơn độc khi toàn huyện chỉ có duy nhất 01 cơ sở công lập là Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Vĩnh Thạnh. Cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành còn thiếu thốn và lạc hậu, danh mục ngành nghề đào tạo chủ yếu là kỹ thuật nông nghiệp truyền thống, chưa đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp chế biến nông sản và Cụm công nghiệp Tà Súc.

Thảo luận kết quả

Kết quả tích cực đạt được xuất phát từ sự chỉ đạo quyết liệt của Huyện ủy, UBND huyện Vĩnh Thạnh và sự phối hợp đồng bộ giữa Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội với các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực thi Đề án 1956 và Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP. Tuy nhiên, các hạn chế kéo dài có nguyên nhân sâu xa từ đặc thù địa hình vùng cao hiểm trở với độ cao bình quân 700m so với mực nước biển, dân cư phân tán và hạ tầng giao thông cách trở tại các xã như Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim. Bên cạnh đó, thời tiết mùa mưa bão tập trung 70 - 80% lượng mưa cả năm vào các tháng cuối năm thường xuyên gây lũ lụt, làm gián đoạn kế hoạch mở lớp.

Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trước đây của Phạm Mạnh Hà (2011) tại Ninh Bình và Nguyễn Hữu Tình (2017) tại Quảng Bình, khẳng định đào tạo nghề tại khu vực miền núi luôn chịu sự chi phối nặng nề bởi tính mùa vụ và tâm lý chuộng bằng cấp đại học hơn học nghề của người dân. Trong công tác quản lý, các dữ liệu này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột thể hiện biến động số lượng học viên 871 người qua từng năm, kết hợp biểu đồ đường biểu diễn tốc độ tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 37% lên 47,6% và bảng đối chiếu cơ cấu nghề nông nghiệp so với phi nông nghiệp. Cách trực quan hóa này giúp nhà quản lý xác định rõ điểm nghẽn để tái phân bổ ngân sách đào tạo hiệu quả hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

Thứ nhất, nâng cấp cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề. Động từ hành động: Đầu tư xây dựng xưởng thực hành hiện đại, mua sắm thiết bị chuyên dùng cho Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện. Target metric: Bảo đảm 100% các lớp đào tạo nghề kỹ thuật có đầy đủ trang thiết bị thực hành đạt chuẩn, đáp ứng quy mô đào tạo tối thiểu 300 lao động mỗi năm. Timeline: Giai đoạn 2023 - 2025. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Vĩnh Thạnh chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Định.

Thứ hai, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo gắn với thị trường. Động từ hành động: Thiết kế giáo trình tinh gọn theo hướng 70% thời lượng thực hành thực tế, ký kết hợp đồng liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của các nhà máy sản xuất mì, chế biến hạt óc chó và Cụm công nghiệp Tà Súc. Target metric: Nâng tỷ lệ học viên có việc làm hoặc tự tạo việc làm ổn định sau đào tạo đạt trên 85%. Timeline: Thực hiện thường xuyên từ năm 2023 đến 2026. Chủ thể thực hiện: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp cùng các doanh nghiệp địa phương.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Động từ hành động: Bồi dưỡng kỹ năng sư phạm dạy nghề cho giáo viên cơ hữu và ban hành cơ chế thù lao thỏa đáng để thu hút kỹ sư, nghệ nhân giỏi tham gia giảng dạy kiêm chức. Target metric: 100% giáo viên đạt chuẩn chức danh nghề nghiệp, thu hút thêm 5 đến 10 thợ giỏi tham gia thỉnh giảng. Timeline: Hoàn thành trước quý IV/2024. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Vĩnh Thạnh.

Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra và đẩy mạnh tuyên truyền hướng nghiệp. Động từ hành động: Tổ chức kiểm tra định kỳ quy trình cấp chứng chỉ, quản lý nguồn vốn ngân sách và số hóa nội dung tuyên truyền chính sách học nghề bằng tiếng Bana trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở. Target metric: 100% các lớp học nghề được kiểm tra thực tế ít nhất 2 lần mỗi khóa, 90% hộ dân tiếp cận thông tin chính sách đào tạo nghề. Timeline: Giai đoạn 2023 - 2025. Chủ thể thực hiện: Thanh tra liên ngành huyện Vĩnh Thạnh và UBND 9 xã, thị trấn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu công phu, mang giá trị ứng dụng cao cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về lao động và kinh tế cấp huyện, cấp tỉnh như Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Định. Luận văn cung cấp bộ dữ liệu thực chứng 2017 - 2021 và cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách đào tạo nghề hàng năm, lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn mục tiêu quốc gia.

Thứ hai, ban giám đốc và cán bộ chuyên trách tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên khu vực miền núi. Nghiên cứu mang lại case study điển hình về cách thức tháo gỡ rào cản tuyển sinh, chuyển đổi từ mô hình dạy nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu sản xuất trên 67.081 ha đất nông nghiệp.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Quản trị công. Đề tài cung cấp khung phân tích chuẩn tắc và phương pháp luận sắc bén trong việc xử lý bài toán quản lý nhà nước tại các địa bàn huyện nghèo đặc thù.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp nông nghiệp tại địa phương. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu tay nghề của 16.832 lao động trên địa bàn, làm căn cứ xây dựng các dự án tài trợ sinh kế và thiết lập chuỗi liên kết bao tiêu nông sản bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tại huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2017 - 2021 đã có sự chuyển biến ra sao? Trả lời: Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của huyện tăng trưởng liên tục từ 37% năm 2017 lên 41% năm 2018, 43% năm 2019, 46% năm 2020 và đạt 47,6% năm 2021. Toàn huyện đã tổ chức đào tạo cho 871 học viên, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức 24,78% vào cuối năm 2021.

Câu hỏi 2: Vì sao công tác đào tạo nghề tại huyện Vĩnh Thạnh trong năm 2021 lại đạt 0 học viên? Trả lời: Sự bùng phát trên diện rộng của đại dịch COVID-19 dẫn đến giãn cách xã hội kéo dài khiến công tác tuyển sinh và mở lớp bị tê liệt hoàn toàn. Ngoài ra, điều kiện mưa bão khắc nghiệt vào quý IV năm 2021 tại vùng cao cũng ngăn cản việc triển khai các lớp dạy nghề lưu động tại cơ sở.

Câu hỏi 3: Người học nghề tại địa bàn huyện miền núi Vĩnh Thạnh được hưởng những chính sách hỗ trợ tài chính nào? Trả lời: Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg và Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề tối đa 3 triệu đồng/người/khóa, hỗ trợ tiền ăn 15.000 đồng/ngày thực học và tiền đi lại tối đa 200.000 đồng/người/khóa cho học viên cách xa từ 15 km trở lên.

Câu hỏi 4: Điểm nghẽn lớn nhất trong liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp tại Vĩnh Thạnh là gì? Trả lời: Trung tâm GDNN-GDTX huyện vẫn chủ yếu đào tạo theo năng lực sẵn có chứ chưa gắn kết với các doanh nghiệp tại Cụm công nghiệp Tà Súc hay các cơ sở chế biến nông sản. Do đó, 80,37% học viên chỉ tham gia các lớp ngắn hạn và chủ yếu tự phục vụ sản xuất hộ gia đình.

Câu hỏi 5: Giải pháp nào được tác giả đề xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số? Trả lời: Tác giả kiến nghị đổi mới giáo trình theo hướng 70% thực hành cầm tay chỉ việc, tuyên truyền chính sách bằng song ngữ Việt - Bana trên đài truyền thanh xã, đồng thời tuyển dụng nghệ nhân giỏi địa phương tham gia truyền nghề trực tiếp trên 67.081 ha đất sản xuất nông - lâm nghiệp.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của tác giả Võ Lệ Huyền đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với các nội dung nổi bật:

  • Hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận và sáu nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng miền núi.
  • Phân tích thực chứng toàn diện số liệu 5 năm (2017 - 2021) với 871 người được đào tạo và tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 37% lên 47,6%.
  • Nhận diện chính xác 4 nhóm hạn chế về cơ sở vật chất, giáo viên, liên kết doanh nghiệp và năng lực bộ máy quản lý.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi, đồng bộ với mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo vượt mức 55% vào năm 2025.
  • Đưa ra các kiến nghị chuẩn xác tới Trung ương, UBND tỉnh Bình Định và UBND huyện Vĩnh Thạnh để hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề tại huyện vùng cao Vĩnh Thạnh. Trong timeline từ năm 2023 đến 2025, chính quyền địa phương cần khẩn trương thể chế hóa các giải pháp thành đề án hành động cụ thể. Quý cơ quan quản lý, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác sâu sắc dữ liệu từ công trình này để đồng hành nâng cao chất lượng nhân lực cho tỉnh Bình Định.