Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề Chương 2: Trạng quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Một số công trình nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề không nhiều, công trình nghiên cứu tiêu biểu tôi có thể tham khảo nhƣ: Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề (2011) đã xuất bản cuốn “Mô hình dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất”. Đây là cuốn sách đƣợc biên soạn dựa trên các tài liệu nghiên cứu, các tài liệu thực tế thông qua các đề tài, đề án của viện và các tác giả, các cơ quan trong và ngoài nƣớc.
[20] Phạm Mạnh Hà (2011) nghiên cứu về vai trò của Nhà nƣớc đối với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chuyên đề luận án tiến sỹ đã chỉ ra những hạn chế, 5 yếu kém và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò quản lý nhà nƣớc đối với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và giải pháp đầu tiên tác giả đề xuất là cần coi trọng công tác quản lý nhà nƣớc về lao động và đào tạo nghề. [12] Nguyễn Ngọc Ánh (2013) đã xem xét, nghiên cứu tình hình quản lý nhà nƣớc về dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Từ đó, đƣa ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực này. Qua nghiên cứu thực trạng, đề tài chỉ ra đƣợc những khuyết điểm, bất hợp lý, không phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu của công tác quản lý nhà nƣớc về dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. [8] Phát triển đào tạo nghề trên địa bàn Thành phố Quy nhơn, tác giả Đặng Nguyên Bách, luận văn Kinh tế phát triển (năm 2014), Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở, lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề tại Thành phố Quy Nhơn.
[4] Bùi Thị Ngọc Thoa (2017) đã nêu thực trạng nguồn nhân lực lao động nông thôn huyện Chƣơng Mỹ, thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 - 2015, trong đó giải pháp đầu tiên tác giả đề cập đến là đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nƣớc về phát triển nhân lực nhƣng không đi sâu về lao động nông thôn. [2] Nguyễn Hữu Tình (2017) đã tập trung vào công tác đào tạo nghề của các trƣờng dạy nghề và yếu tố ảnh hƣởng đến công tác dạy nghề tại tỉnh huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, đồng thời phân tích cụ thể các nhân tố ảnh hƣởng tới công tác đào tạo nghề cũng nhƣ công tác quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. [9] Xác định công tác quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho lao động nông thôn có vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Tuy nhiên, vẫn chƣa có một đề tài khoa học hay công trình nào 6 nghiên cứu sâu sắc và toàn diện công tác Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định cho đến thời điểm hiện tại. Trên cơ sở đó, tác giả đã tham khảo một số giáo trình, luận văn và bài báo có liên quan để làm rõ hơn cho đề tài nghiên cứu của mình. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Những vấn đề chung về quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề 1.
Khái niệm về nghề và đào tạo nghề 1. Nghề Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng giống nhƣ một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ.
Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống của con ngƣời và đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng. Theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định, cho đến nay thuật ngữ “Nghề” đƣợc hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Ở Việt Nam theo chƣơng trình hƣớng nghiệp VIE Thanh Niên thì: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại nói chung và về chiến lƣợc phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng. Vì vậy phạm trù “Nghề” biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hƣớng phát triển KT-XH của đất nƣớc. Đào tạo nghề Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ, đào tạo đƣợc định nghĩa: “Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để ngƣời học lĩnh hội và nắm vững các tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho ngƣời đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận đƣợc một công việc nhất định”. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề.
Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”. Theo Luật Dạy nghề 2006: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Nói chung, đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định.
Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề 1. Quản lý Theo nghĩa chung nhất, là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Quản lý là một hoạt động có tính chất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi ngƣời. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa 9 trên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt đƣợc mục tiêu chung.
Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con ngƣời. Quản lý là hoạt động do một hay nhiều ngƣời điều phối hành động của những ngƣời khác nhằm đạt đƣợc một mục tiêu nào đó một cách có hiệu quả. Nhƣ vậy, quản lý là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để điều khiển nguồn lực thực hiện các tiến trình để giải quyết các vấn đề. Theo giáo trình Khoa học hành chính (2010) - Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính có thể nhận thấy bao giờ quản lý cũng xuất hiện cùng với nhu cầu phải phân công và phối hợp trong lao động.Mác cho rằng “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một khi ngƣời độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng” [5]. Để một hoạt động quản lý có thể diễn ra, bên cạnh chủ thể quản lý còn cần các yếu tố khác nhƣ đối tƣợng quản lý, cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý và những mục tiêu mà hoạt động quản lý đó hƣớng tới. Nhƣ vậy, có thể hiểu quản lý là sự tác động có định hƣớng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý bằng các phƣơng thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định. 10 Từ nội hàm của các khái niệm trên, có thể thấy rằng quản lý có một vai trò hết sức quan trọng nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí trong tổ chức giữa những ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý; giữa những ngƣời bị quản lý với nhau; định hƣớng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hƣớng mọi nỗ lực của các đối tƣợng quản lý vào mục tiêu đó; tổ chức, điều hoà, phối hợp và hƣớng dẫn hoạt động của các cá nhân, tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý; tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, động viên; uốn nắn lệch lạc, sai sót nhằm giảm bớt thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý, tạo môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của mọi cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.
Xã hội loài ngƣời ngày càng phát triển thì trình độ quản lý cũng đƣợc phát triển phù hợp. Hoạt động của con ngƣời rất đa dạng và phong phú nên quản lý cũng đa dạng phong phú.