Chương 1. Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ ở Quảng Ngãi Chương 3. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ tại tỉnh Quảng Ngãi 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÁNH BẮT XA BỜ 1.
Đánh bắt xa bờ 1. Khái niệm, đặc điểm đánh bắt xa bờ 1. Khái niệm Khai thác thủy sản, khai thác hải sản, tàu cá Tại khoản 18, điều 3, Luật Thủy sản 2017 quy định “Khai thác thuỷ sản là hoạt động đánh ắt hoặc hoạt động hậu cần đánh ắt nguồn l i thủy sản”. [33, tr 3] Hoạt động đánh bắt là một hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản là hoạt động thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ, vận chuyển nguồn lợi thủy sản đánh bắt trong vùng nước tự nhiên. Theo định nghĩa của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc FAO, “capture fisheries includes oth marine and inland capture fisheries” (khai thác thủy sản bao gồm khai thác thủy sản vùng biển và khai thác thủy sản nội địa). Khai thác hải sản là thuật ngữ mô tả những hoạt động đánh bắt, thu nhặt các tài nguyên sinh vật có ở biển. T những quy định của pháp luật Việt Nam c ng như cách hiểu theo Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc FAO và khái niệm về “hải sản”, ta có thể hiểu khai thác hải sản là một hoạt động khai thác thủy sản và hoạt động khai thác này được thực hiện ở vùng biển.
ên cạnh đó, ta c ng có thể hiểu khai thác thủy sản nội địa là hoạt động khai thác thủy sản, được tiến hành trên sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. 9 Việc phân biệt giữa khai thác hải sản và khai thác thủy sản nội địa sẽ giúp cho việc quản lý tốt hơn. ởi đặc thù khai thác hải sản sẽ khác so với khai thác thủy sản nội địa, bởi thế cần phải có những chính sách, kế hoạch phát triển, quản lý khác nhau. Một số khái niệm liên quan đến vùng iển Nghị định 26/2019/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thủy sản năm 2017, tại khoản 1, điều 42 quy định vùng biển Việt Nam được phân thành ba vùng khai thác thủy sản như sau: Vùng ven được giới hạn bởi mép nước biển dọc theo bờ biển và tuyến bờ.
Đối với các đảo, vùng ven bờ là vùng biển được giới hạn bởi ngấn nước thủy triều trung bình nhiều năm quanh bờ biển của đảo đến 06 hải lý; Vùng lộng được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng; Vùng khơi được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam. [9, tr 40] C ng Nghị định này, tại khoản 1, điều 43 quy định về phạm vi khai thác trên mỗi vùng biển đối với tàu đánh bắt nguồn lợi thủy sản căn cứ cụ thể như sau: - Tàu có chiều dài lớn nhất t 15 mét trở lên hoạt động tại vùng khơi, không được hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng; - Tàu có chiều dài lớn nhất t 12 mét đến dưới 15 mét hoạt động tại vùng lộng, không được hoạt động tại vùng khơi và vùng ven bờ; - Tàu có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét hoạt động tại vùng ven bờ không được hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi. [9, tr 40] Đánh ắt a Hoạt động khai thác hải sản của mỗi quốc gia về cơ bản sẽ được chia thành: khai thác hải sản ven bờ và khai thác hải sản xa bờ. Tùy thuộc mỗi nước mà sẽ có những quy định khác nhau về khai thác ven bờ và khai thác xa 10 bờ.
Ở Việt Nam, việc phân loại như thế nào là khai thác hải sản xa bờ hay đánh bắt xa bờ, như thế nào là khai thác hải sản ven bờ chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng các quy định của pháp luật. Theo quyết định số 393/TTg của Thủ tướng Chính phủ, “Đánh cá xa bờ tạm thời quy định là đánh cá ở vùng biển được giới hạn bởi đường đẳng sâu 30 mét t bờ biển trở ra đối với vùng biển Vịnh ắc ộ, Đông và Tây Nam ộ, Vịnh Thái Lan, và đường đẳng sâu 50 mét t bờ biển trở ra đối với vùng biển miền Trung. Tàu đánh cá xa bờ là tàu có lắp máy chính công suất t 90 CV trở lên; có đăng ký hành nghề đánh cá xa bờ tại địa phương nơi cư trú hoặc giấy phép hành nghề đánh cá xa bờ do cơ quan bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản cấp”. Như vậy, có thể tạm hiểu: đánh bắt xa bờ là đánh bắt ở vùng biển ngoài khơi xa, ngư trường đánh bắt tính t 30 mét độ sâu nước biển, ở khu vực miền Trung là 50 mét.
Trước đây quy định tàu đánh bắt xa bờ phải có lắp máy chính công suất t 90 CV trở lên. Hiện nay, tàu đánh bắt xa bờ phải có chiều dài lớn nhất t 15 mét trở lên, theo như quy định tại nghị định Nghị định 26/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thủy sản năm 2017. Đặc điểm đánh ắt a Một là, mang tính mùa vụ, phụ thuộc điều kiện khí hậu, địa lý, sinh thái, điều kiện kinh tế - xã hội, thị trường. Đây là nét điển hình nhất của ngành thủy sản, c ng như của hoạt động đánh bắt xa bờ, vì qúa trình khai thác là quá trình tái sản xuất, kinh tế gắn với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất trùng nhau.
o sự biến thiên về điều kiện thời tiết khí hậu, ngư trường, mỗi mùa có t ng loại cá riêng, dẫn đến khai thác mỗi mùa c ng khác nhau. Hai là, đối tượng khai thác là sinh vật biển, chúng là những tài nguyên biển có sẵn, đa dạng 11 Các loại sinh vật biển phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với mọi yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển và diệt vong. Sinh vật biển với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt, được khai thác bằng ngư cụ làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất.
Và mỗi loài sinh vật biển đều tương thích mới mỗi loại khí hậu, mực nước, vùng biển khác nhau. Chính vì vậy, chúng là những sinh vật có sẵn trong tự nhiên, môi trường nào thích hợp nó sẽ cư trú, sinh sản, phát triển. Ba là, khai thác có tính vùng Khai thác thủy sản là ngành nông nghiệp v a là ngành công nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Thế nhưng, ở mỗi ngư trường vùng biển có điều kiện có điều kiện khí hậu, thời tiết, nước biển rất khác nhau.
Khai thác sinh vật biển, là những sinh vật có sẵn trong tự nhiên phụ thuộc cách sinh trưởng và phát triển mỗi nơi mỗi khác, mỗi vùng biển sẽ có những sinh vật biển khác nhau sinh sống. Chính vì vậy, do điều kiện khác nhau như vậy, đòi hỏi quá trình khai thác thủy sản xa bờ cần chú ý các vấn đề kinh tế kỹ thuật sau: - Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên sinh vật biển trên phạm vi biển của cả nước c ng như tính quy hoạch bố trí ngư cụ, nguyên liệu tiến hành khai thác cho phù hợp với chủng loại đó - Việc xây dựng phương hướng tiến hành khai thác phải phù hợp với đặc điểm sinh sản và sinh trưởng của nó. - Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với t ng điều kiện t ng vùng, t ng khu vực nhất định. - Khai thác tiến hành trong thời điểm khí hậu tốt, không có bão, hay lốc gió khi đã được cảnh báo thiếu an toàn khi ra khơi.
Vai trò đánh bắt xa bờ Khai thác thủy sản dần trở thành thế mạnh trên thương trường xuất khẩu, có tốc tăng trưởng cao, có tỷ trọng G P ngày càng lớn và chiếm một vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó được thể hiện ở các mặt sau: Thứ nhất là góp phần quan trọng trong tăng trưởng của ngành nông lâm ngư nghiệp Khai thác thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng. Vì vậy phát triển mạnh khai thác thủy sản, đặc biệt là khai thác thủy sản xa bờ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Để đánh giá vai trò của các khu vực, ngành kinh tế người ta thường sử dụng hai tiêu chí chủ yếu là tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng của t ng ngành, t ng khu vực trong toàn bộ nền kinh tế.
Khi sử dụng hai tiêu chí trên cần chú ý hai trường hợp: tốc độ tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng nhỏ hoặc nếu tỷ trọng lớn nhưng tốc độ tăng trưởng thấp thì mức độ đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là thấp. Ngày nay người ta đánh giá mới bằng việc xác định tỷ trọng đóng góp của t ng ngành, t ng khu vực vào tốc độ tăng trưởng chung. Chỉ tiêu này thể hiện rõ hơn và lượng hóa được vai trò của t ng ngành, t ng khu vực trong nền kinh tế. Trong những năm qua tỷ trọng đóng góp của ngành nông lâm thủy sản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng tăng dần là do sự chuyển biến tăng trưởng của ngành khai thác thủy sản.
Việc ngành thuỷ sản chú trọng đầu tư ngày một nhiều hơn và đúng hướng đã hình thành tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thuỷ sản được định hướng phát triển phục vụ xuất khẩu đã tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho lao động nghề cá cả nước, góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của đất nước. 13 Thứ hai là tạo ra thị trường cho các sản phẩm công nghiệp; góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho ngư dân, nông dân vùng nông thôn.