Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN SỐ 1. Những vấn đề cơ bản về dân số 1. Khái niệm về dân số Dân số có liên quan đến nhiều hoạt động, nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống KT-XH. Vì vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau để hiểu về dân số: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Dân số theo nghĩa rộng là tập hợp những người cư trú thường xuyên và sống trên một lãnh thổ nhất định (một nước, một vùng kinh tế, một đơn vị hành chính - lãnh thổ…).
Theo nghĩa hẹp và dùng trong nhân khẩu học (dân số học), là một tập hợp người hạn định trong phạm vi nào đó (về lãnh thổ, về xã hội…) và có một tính chất gắn liền với sự tái sản suất liên tục của nó” [49, tr. “Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ: quy mô, cơ cấu và chất lượng. Nội hàm của khái niệm dân cư không chỉ bao gồm số người, cơ cấu theo độ tuổi và giới tính mà nó còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hoá, sức khoẻ, ngôn ngữ. tức là nó rộng hơn rất nhiều so với nội hàm của khái niệm dân số” [45, tr.
“Dân số theo nghĩa thông thường là số lượng dân trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định. Bởi vì dân số có thể coi là số lượng dân của cả trái đất hay một phần của nó, của một quốc gia hay một vùng địa lý nào đó. Dân số theo nghĩa rộng được hiểu là một tập hợp người. Tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng.
Tập hợp này bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định mà thường xuyên biến động. Ngay bản thân mỗi cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già hóa và tử vong” [51, tr. Theo Pháp lệnh dân số 2003, “Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính” [35, tr. Như vậy, từ những quan điểm khác nhau về dân số như trên, có thể rút ra khái niệm về dân số như sau: Dân số là một tập hợp người sinh sống trong một 8 quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế, một địa phương hay một vùng lãnh thổ nhất định, được xác định tại một thời điểm cụ thể và nói đến Dân số là nói đến quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số.
Quy mô, cơ cấu, phân bố dân cư và chất lượng dân số 1. Quy mô dân số “Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định” [35, tr. Quy mô dân số của một vùng lãnh thổ (một địa phương, một nước, hay một châu lục.) là tổng số dân sinh sống trên vùng lãnh thổ đó. Quy mô dân số có thể chia ra quy mô dân số thời điểm (đầu kỳ, cuối kỳ, một thời điểm nào đó) và quy mô dân số trung bình của một thời kỳ.
Quy mô dân số thời điểm là quy mô dân số được thống kê vào một thời điểm nhất định. Quy mô dân số trung bình là số trung bình cộng của các dân số thời điểm Nhà nước điều chỉnh quy mô và tốc độ tăng dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội, tài nguyên, môi trường; đảm bảo cơ cấu nhân khẩu học thích ứng cho sự phát triển bền vững. Điều chỉnh trực tiếp quy mô và tốc độ tăng dân số thông qua việc điều chỉnh mức sinh; giảm tỷ suất chết do các nguyên nhân chủ quan, tỷ suất chết của trẻ em dưới một tuổi, dưới năm tuổi và của người mẹ trong thời gian thai sản; định hướng di dân phù hợp với yêu cầu phân bổ nguồn lực, phát huy tiềm năng tài nguyên, bảo vệ an ninh, quốc phòng. Điều chỉnh gián tiếp quy mô và tốc độ tăng dân số thông qua các chính sách, kế hoạch phát triển KT-XH trong từng giai đoạn.
Cơ cấu dân số “Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một vùng thành các nhóm theo một hay nhiều tiêu thức (mỗi một tiêu thức là một đặc trưng nhân khẩu học nào đó)” [45, tr. “Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác” [35, tr. 9 Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống, thành thị nông thôn…Việc nghiên cứu cơ cấu dân số cho phép chúng ta nghiên cứu một cách tỷ mỉ và kỹ lưỡng hơn dân số của một địa phương. Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính.
Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội. Nhà nước điều chỉnh cơ cấu dân số cân đối về giới tính, nhóm tuổi trong dân số của cả nước, khu vực, địa phương; bảo đảm sự phát triển bền vững. Điều chỉnh trực tiếp cơ cấu dân số thông quan điều chình mức sinh, cơ cấu dân số theo nhóm tuổi; điều chỉnh tỷ số giới tính khi sinh theo quy luật tự nhiên; định hướng di dân theo nhóm tuổi, giới tính giữa các khu vực, địa phương. Điều chỉnh gián tiếp cơ cấu dân số thông qua các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, 1.
Phân bố dân cư “Phân bố dân cư là sự phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính” [35, tr. “Phân bố dân cư là sự sắp xếp số dân trên một vùng lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của người dân và với các yêu cầu nhất định của xã hội. Phân bố dân số là sự phân chia tổng số dân theo các đơn vị địa lý hành chính, theo các vùng địa lý kinh tế, theo vùng địa lý khí hậu và theo thành thị, nông thôn” [51, tr. Nhà nước định hướng phân bổ dân số hợp lý giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các địa phương trên cơ sở tôn trọng quyền tự do di dân, tự do cư trú.
Điều chỉnh trực tiếp quá trình di dân giữa nơi đi, nơi đến theo quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án được duyệt và sự tự nguyện của người di dân. Điều chỉnh gián tiếp quá trình di dân thông qua việc tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội; giảm sự phân bổ nguồn lực không 10 đồng đều giữa các khu vực, địa phương; ưu tiên đầu tư phát triển vùng nghèo, vùng khó khăn. Bảo đảm bình đẳng về quyền, lợi ích của người di dân với người dân sở tại; cải thiện môi trường, cơ sở hạ tầng đô thị bảo đảm các tiêu chí của đô thị khi số dân tăng lên. Chất lượng dân số Chất lượng là thuộc tính khách quan của sự vật.
Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính của nó. Chất lượng của sự vật cũng gắn liền với số lượng, mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng. Ăngghen cho rằng: “Chất lượng dân số là khả năng của con người thực hiện các hoạt động một cách hiệu quả nhất” [45, tr. Theo Pháp lệnh dân số Việt Nam năm 2003: “Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số” [35, tr.
Như vậy, chất lượng dân số là một phạm trù rộng, được hiểu là tổng thể các thành tố tạo nên thể lực, trí lực và tinh thần của con người nói chung. Một dân số cụ thể, dân số của mỗi nước hoặc mỗi vùng và vào những thời kỳ nhất định sẽ có một chất lượng nhất định. Chất lượng dân số được nhìn nhận liên quan biện chứng đến số lượng dân. Chất lượng dân số bao hàm chất lượng người từ lúc mới sinh cho đến khi chết, cả nam và nữ.
Chất lượng dân số không chỉ được đánh giá về nhân trắc học (chiều cao, cân nặng, các số đo cơ bản về vòng ngực, bụng, tay, chân, sự cân đối của cơ thể với từng lứa tuổi.), tố chất, sức chịu đựng dẻo dai… mà còn được nhìn nhận thông qua cuộc sống tinh thần, con người quan hệ với nhau như thế nào, họ có cơ hội bình đẳng không trước sự lựa chọn việc làm, giáo dục, phúc lợi, hôn nhân gia đình., có được tôn trọng và tự do cá nhân không, họ có môi trường để phát huy khả năng sáng tạo hay không trong thực tế. Chất lượng dân số bao hàm các khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực, khái niệm chất lượng lao động. Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nhà nước bảo đảm quyền cơ bản, quyền phát triển, 11 quyền thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần mỗi người.
Tăng cơ hội lựa chọn và tiếp cận dịch vụ nâng cao chất lượng dân số đa dạng thuận tiện cho người dân. Tăng chỉ số cơ bản về chiều cao, cân nặng, sức bền, tuổi thọ bình quân, nâng cao trình độ học vấn và thu nhập bình quân đầu người; bảo đảm cho nhóm dân số đặc thù nâng cao chất lượng dân số. Quản lý nhà nước về dân số tại cấp huyện 1. Khái niệm quản lý nhà nước về dân số “Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định” [21, tr.
“Quản lý nhà nước là một dạng quản lý, chứa đựng bên trong nó nhiều kỹ năng thuộc về quản lý như mọi tổ chức khác đã vận dụng” [22, tr. “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [23, tr.