Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về chi trả dịch vụ môi trường rừng Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng QLNN về chi trả DVMTR ở Việt Nam Chương 4: Bối cảnh, định hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN về chi trả DVMTR ở Việt Nam 5 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG 1. Tình hình nghiên cứu về quản lý về chi trả DVMTR 1. Những nghiên cứu trên thế giới Theo Mills & Porras (2002), rừng có khả năng cung cấp các DVMT như: bảo tồn ĐDSH, hấp thụ các bon, bảo vệ đầu nguồn, vẻ đẹp cảnh quan và các dịch vụ khác.
Các tác giả đã xác định cơ cấu cho giá trị của các loại DVMT bao gồm: hấp thụ cac bon 27%, bảo tồn đa dạng sinh học 25%, bảo vệ đầu nguồn 21%; vẻ đẹp cảnh quan 17% và giá trị khác 10%. Có thể thấy ngoài việc cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác rừng còn có thể cung cấp các DVMT và mỗi dịch vụ này sẽ có một giá trị nhất định trong tổng giá trị kinh tế của rừng. Nhưng các giá trị về DVMT chưa mang ra thị trường mua bán được do chúng được coi là hàng hóa công cộng. Khi nghiên cứu riêng cho các chương trình chi trả DVMT cộng đồng, Hayes & cs.
(2019) đã tổng hợp và phân tích về bốn thách thức đối với hợp đồng chi trả DVMT này là: (i) sự tham gia tự nguyện của các thành viên hay chỉ là thông báo; (ii) hộ gia đình có tuân thủ các quy định; (iii) làm thế nào để cân bằng chi phí và lợi ích giữa các thành viên; (iv) sự tương tác với các điều kiện quản lý địa phương. Thông qua tổng quan 41 nghiên cứu bao gồm 16 chương trình chi trả DVMT cộng đồng ở 12 quốc gia, kết quả cho thấy rằng chi trả DVMT có thể thay đổi hành vi bảo vệ rừng của cộng đồng và mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái. (2009), phân tích những tiềm năng và thách thức trong các mô hình chi trả DVMT ở Ý, đặc biệt tập trung vào các DVMT liên quan đến du lịch. Hơn nữa, thị trường của các dịch vụ rừng khác nhau có các động lực, quy mô và mức độ hoàn thiện khác nhau.
Các kết quả về hiệu lực, hiệu quả và công bằng cũng rất biến động. Do đó, những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với các sáng kiến mới giữa tư nhân và phối hợp công tư cần được khám phá thêm trước khi đánh giá tiềm năng để thực hiện chi trả DVMT ở Ý. 6 Tại Cộng hòa Kyrgyzstan đặc trưng bởi sự chuyển đổi lịch sử của truyền thống tập thể du mục, sự cai trị của Liên Xô sau đó, sang những tiến bộ theo hướng dân chủ, hội nhập thị trường và thí điểm chi trả DVMT đầu tiên trong nước. Trong các biện pháp được cung cấp có mối quan hệ tác động lẫn nhau chặt chẽ giữa việc các trưởng thôn huy động hoạt động tập thể và các chuẩn mực xã hội, tin tưởng trong việc thực hiện chi trả DVMT.
Nghiên cứu một cấu trúc riêng về động cơ cá nhân, chuẩn mực và các yếu tố liên quan đến tính hợp lý, cung cấp cái nhìn sâu sắc của việc thực hiện chi trả DVMT tại Kyrgyzstan (Kolinjivadi & cs. (2008), đã phân tích chương trình chi trả DVMTR tại thung lũng Los Negros của Bolivia, 46 nông dân được trả tiền để bảo vệ 2774 ha rừng mây đầu nguồn là môi trường sống của 11 loài chim đang bị đe dọa. Người mua dịch vụ là một nhà tài trợ quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học. Dịch vụ thứ hai, những người sử dụng nước để tưới ở hạ nguồn được hưởng lợi từ dòng nước ổn định trong mùa khô nếu các rừng mây ở thượng nguồn được bảo vệ.
Những người này đã miễn cưỡng trả tiền, chính quyền thành phố Los Negros đã thay mặt họ đóng góp $4500 cho chương trình này. Phương thức chi trả theo thỏa thuận là đền bù hàng năm theo tỷ lệ hiện vật để bảo vệ rừng. Những thách thức lớn nhất trong quá trình phát triển chi trả DVMTR là quá trình xây dựng lòng tin giữa người mua và nhà cung cấp dịch vụ diễn ra chậm chạp và việc đạt được sự bổ sung rõ ràng về cung cấp dịch vụ. Những nghiên cứu ở Việt Nam Tác giả Trung Thanh Nguyen & cs.
(2013), đã tính toán giá trị kinh tế của các dịch vụ thuỷ văn lâm nghiệp cho nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. Kết quả cho thấy giá trị kinh tế của các dịch vụ thuỷ văn rừng cho sản xuất điện dao động từ 26,3 triệu USD đến 85,5 triệu USD một năm và tuổi thọ của nhà máy thủy điện có thể kéo dài khoảng 35-80 năm, tùy thuộc vào trạng thái độ che phủ rừng trong lưu vực sông. Nghiên cứu xây dựng cơ chế chi trả DVMT, Hoàng Minh Hà & cs. (2012), đã xác định phương pháp chi trả, đối tượng được chi trả và phải chi trả DVMTR tại vùng Dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn đối với các dịch vụ: điều tiết nguồn nước, tích tụ cac bon, vẻ đẹp cảnh 7 quan; xây dựng và đề xuất cơ chế quản lý và sử dụng phí DVMTR ở cấp tỉnh, cấp xã và cấp thôn; xây dựng đề án cụ thể chi trả DVMTR đối với từng loại rừng áp dụng thí điểm tại các huyện thuộc vùng dự án là Pác Nặm, Ba Bể, Na Rì.
Tuy nhiên, hệ số K=1 được đề xuất áp dụng tại Bắc Cạn trong giai đoạn thí điểm và sau đó sẽ điều chỉnh hệ số K này cho phù hợp chưa cho thấy sự khác nhau về giá trị DVMTR của các loại rừng khác nhau. Tác giả Vương Văn Quỳnh & cs. (2011), đã chỉ ra rằng: rừng đặc dụng và rừng phòng hộ thường có ở vị trí cao, dốc, địa hình khó tiếp cận vì vậy được ghép thành một nhóm. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt về giá trị giữ nước giữa rừng phòng hộ và rừng sản xuất, nhưng lại có sự khác biệt rất rõ về giá trị giữ đất giữa hai loại rừng này.
Về giá trị của dịch vụ hấp thụ các bon và vẻ đẹp cảnh quan thì rừng tự nhiên cao hơn các loại rừng khác. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở đề xuất áp dụng hệ số K cho toàn quốc theo thông tư 80/2011/TT-BNNPTNT) về hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả DVMTR. Tác giả Hoàng Minh Hà & cs. (2008), rút ra năm bài học từ dự án Rupes bao gồm: Hiểu được rằng chi trả DVMT nhằm xoá đói giảm nghèo; Xây dựng các chính sách và thể chế để thúc đẩy hoạt động chi trả DVMT ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế; Liên kết người cung cấp DVMT với người mua DVMT trong các cơ chế chi trả DVMT thử nghiệm; Xây dựng tiêu chí và chỉ số để thực hiện các kế hoạch chi trả DVMT được công bằng và hiệu quả; Thành lập đối tác và mạng lưới.
Tiềm năng và một vài ví dụ tại Việt Nam. Mặc dù vậy, các ví dụ trong nghiên cứu mới chỉ được trình bày dưới dạng giới thiệu chương trình chưa phân tích được những ảnh hưởng đến hệ sinh thái cũng như đời sống của người dân trong khu vực được chi trả DVMT. Báo cáo của Bộ NN& PTNT (2014, 2017), đã tổng kết các kết quả đạt được của việc QLNN của hai giai đoạn ở các mặt tổ chức thực hiện và kết quả thu, chi tiền DVMTR cụ thể cho từng tỉnh, từng vùng kinh tế. Từ đó có những đề xuất sửa đổi chính sách như: điều chỉnh tăng mức chi trả DVMTR đối với sản xuất thủy điện và nước sạch; Rà soát mức chi trả đối với dịch vụ du lịch và xác lập cơ chế chi trả thích hợp đối với từng loại hình và sản phẩm du lịch; Bổ sung quy định về giám sát 8 chi trả DVMTR; UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương quyết định chi trả tiền DVMTR theo từng lưu vực hay theo hệ thống các lưu vực.
Điều chỉnh áp dụng hệ số K theo hướng bỏ hệ số K4. Tuy nhiên, trong các báo cáo này chưa có sự tổng hợp thông tin sơ cấp, mới chỉ sử dụng nguồn số liệu thứ cấp tổng hợp từ các Quỹ BV&PTR các tỉnh. Phạm Thu Thủy & cs. (2013), trong nghiên cứu “Chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam: Từ chính sách đến thực tiễn” đã giải quyết được một số nội dung chính: Tiến trình phát triển chi trả DVMT và chi trả DVMTR tại Việt Nam; thể chế cho chi trả DVMTR; những thành tựu và thách thức đối với chi trả DVMTR rừng tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu thảo luận về những khoảng trống của chính sách khi đưa vào thực hiện và những khuyến nghị để việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trong tương lai sẽ tốt hơn. Bùi Đức Tính (2014), đã tổng kết kết quả và tác động của dự án thử nghiệm thực hiện chi trả DVMTR tại Lâm Đồng và Sơn La. Chương trình thử nghiệm này đã thiết lập một cơ chế quản lý rừng và giúp các hộ tham gia giảm nghèo. Trần Thị Thu Hương & cs.
(2016), đã cho thấy được: thiết kế của thể chế chính sách chi trả DVMTR và thực hiện thể chế đó trong thực tế tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Hòa Bình nói riêng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chi trả DVMTR hoạt động tốt hơn các chương trình bảo vệ rừng trước đây do việc đưa rừng sản xuất vào thực hiện chi trả, mang lại nhiều lợi ích hơn cho người nông dân. Tuy nhiên, chi trả DVMTR giống các chương trình trợ cấp trước đó về bảo vệ rừng ở chỗ: các khoản thanh toán được thực hiện dựa trên sự tham gia của các hộ trong các chương trình chứ không phải là cung cấp các DVMTR; việc thu phí DVMTR độc lập với việc thực hiện bảo vệ rừng thực tế có thể cản trở hiệu quả của chương trình và các hợp đồng chi trả DVMTR không dựa trên sự tự nguyện của người sử dụng cũng như người cung cấp dịch vụ. Kết quả nghiên cứu còn đưa ra những phân tích lợi ích về mặt kinh tế, xã hội và môi trường của chính sách, tuy nhiên những phân tích này còn mang tính chất định tính và chưa có số liệu minh chứng.
Hơn nữa, nguồn số liệu sơ cấp của nghiên cứu được thu thập trên phạm vi hẹp ở cấp huyện (huyện Đà Bắc).