mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục các bảng biểu số liệu, luận văn đƣợc bố cục gồm 10 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc về chi trả các chế độ BHXH - Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về chi trả các chế độ BHXH tại huyện Đắk Hà tỉnh Kon Tum - Chƣơng 3: Một số giải pháp để hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về công tác chi trả các chế độ BHXH tại huyện Đắk Hà tỉnh Kon Tum. 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN C Ơ B Ả N CỦA QUẢN LÝ N H À N Ƣ Ớ C V Ề CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH 1. Một số á n ệm a.
Bảo hiểm xã hội - Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO: “ BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [11]. - Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế: “Là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết”. - Theo Bộ Lao động: “Là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [43].
- “BHXH là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trƣờng hợp nguồn thu nhập bình thƣờng bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những ngƣời 12 lao động làm công ăn lƣơng trong xã hội” [43]. - Đó là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngƣời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngƣời lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [23, tr. - Và là biện pháp mà Nhà nƣớc sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời tham gia bảo hiểm, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung đƣợc hình thành bởi các bên tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [32, tr. Từ các khái niệm trên cho thấy, BHXH có thể tiếp cận ở các góc độ khác nhau: - Theo góc độ chính sách: “BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo ngƣời lao động và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia”.
- Theo góc độ tài chính: “Đó là một quỹ tài chính tập trung, đƣợc hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc”. - Theo góc độ thu nhập: “Là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi ngƣời lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập”. - Theo góc độ quản lý: “Là công cụ quản lý của Nhà nƣớc để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội”. Nhìn theo nhiều góc độ trên, có thể định nghĩa chung nhất: “BHXH là sự 13 bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ” (Theo Điều 3.1 Luật BHXH số 58/2014/QH13) [30] Từ các khái niệm trên cho chúng ta thấy đƣợc bản chất của BHXH là: - Bản chất kinh tế: “Không phải là dịch vụ sản xuất mà nó là dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những khoản thu nhập bị mất của NLĐ khi gặp sự cố trong cuộc sống”.
- Là một loại hình bảo hiểm mang tính xã hội rất cao. “Là sự san sẻ rủi ro giữa tập thể NLĐ. Qua đó cũng thể hiện rõ trách nhiệm xã hội giữa chủ SDLĐ với NLĐ, của NLĐ với nhau và sự quan tâm của Nhà nƣớc tới sự cống hiến cho lợi ích xã hội của họ”. - Bản chất pháp lý: “là bản cam kết giữa cơ quan BHXH, ngƣời sử dụng lao động và NLĐ về trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên thông qua các quy định của pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về BHXH”.
Quỹ bảo hiểm xã hội “Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung đƣợc hạch toán độc lập với ngân sách nhà nƣớc đƣợc nhà nƣớc bảo hộ và đền bù, Quỹ này đƣợc quản lý theo cơ chế cân bằng thu chi do đó quỹ BHXH không đơn thuần ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự biến động theo chiều hƣớng tăng lên hoặc thâm hụt. Đƣợc hình thành từ đóng góp của các bên tham gia và các nguồn thu khác, sử dụng để bù đắp, hoặc thay thế thu nhập cho ngƣời tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội và phát triển kinh tế của đất nƣớc” [32, tr. Quỹ đƣợc hình thành và hoạt động tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro cho những ngƣời tham gia vì rủi ro đƣợc dàn trải cho số đông ngƣời tham 14 gia. Khi có biến cố xã hội xảy ra nhƣ thiên tai, hạn hán, dịch bệnh quỹ này cũng góp phần giảm chi ngân sách cho Nhà nƣớc vì cũng đóng góp một khoản không nhỏ giúp Nhà nƣớc thay cho cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội, … Quỹ BHXH đƣợc hình thành từ các nguồn sau: - NSDLĐ đóng theo quy định của luật: Thông thƣờng phần đóng góp này đƣợc xác định dựa trên quỹ lƣơng của đơn vị, doanh nghiệp.
NSDLĐ đóng góp một phần cho NLĐ sẽ giảm bớt mẫu thuẫn và tranh chấp giữa chủ và thợ đồng thời sẽ tránh đƣợc những thiệt hại to lớn nhƣ đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ. - NLĐ đóng theo quy định của luật: NLĐ đóng góp một phần vào quỹ để dàn trải các rủi ro theo thời gian, và để dành dụm, tiết kiệm về sau bằng cách là hƣởng lƣơng hƣu hoặc hƣởng trợ cấp khi gặp rủi ro xảy ra. Vì vậy đòi hỏi nghĩa vụ và quyền lợi phải đƣợc thực hiện một cách chặt chẽ. - Hỗ trợ của nhà nƣớc: Khi mối quan hệ giữa chủ - thợ có chứa nhiều mâu thuẫn và tranh chấp mà hai bên không thể tự giải quyết đƣợc thì Nhà nƣớc thông qua các chính sách, pháp luật để điều hòa nhằm mục đích đảm bảo các hoạt động xã hội đƣợc diễn ra ổn định.
Và quỹ BHXH đƣợc nhà nƣớc bảo hộ và đóng góp khi bị thâm hụt không đủ khả năng để chi trả cho các chế độ xã hội. - Các nguồn thu hợp pháp khác: nhƣ các cá nhân, tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tƣ nhàn rỗi, khoản nộp tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng BHXH. Quỹ đƣợc sử dụng chủ yếu cho hai nội dung: Chi trả các chế độ và chi cho hoạt động quản lý sự nghiệp BHXH. Trong đó, nguồn tài chính dùng để chi trả các chế độ là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm đại bộ phận trong việc sử dụng quỹ BHXH.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ban hành Công ƣớc số 102 ngày 04 tháng 6 năm 1952 về quy phạm tối thiểu an 15 toàn xã hội, trong đó có quy định 9 chế độ trợ cấp, bao gồm: chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già (hƣu bổng); trợ cấp trong trƣờng hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất. - Chi trả các trợ cấp: Đây là khoản chi chủ yếu của quỹ. Tuỳ theo quy định của từng nƣớc, các chế độ trợ cấp có thể khác nhau. Tuy, có thể có các loại trợ cấp sau: + Các trợ cấp ngắn hạn: dùng để chi cho các chế độ ngắn hạn nhƣ ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, BHYT, thất nghiệp; trợ cấp gia đình.
+ Các trợ cấp dài hạn: dùng để chi trả các chế độ dài hạn nhƣ hƣu trí; tử tuất, TNLĐ - BNN nặng; Các trợ cấp này đƣợc xác định theo những căn cứ kinh tế - xã hội và các điều kiện sinh học của mỗi nƣớc trong giai đoạn nhất định và đƣợc pháp luật quy định. - Chi phí quản lý BHXH: Đây là khoản chi cho các hoạt động thƣờng xuyên của tổ chức, bao gồm: + Chi lƣơng cho cán bộ làm việc trong hệ thống BHXH; + Chi phí nghiệp vụ; + Chi nghiên cứu khoa học; + Chi phí hành chính (điện, nƣớc, văn phòng phẩm, .); + Khấu hao tài sản cố định; + Chi phí mua sắm, sửa chữa. - Chi phí đầu tƣ: khoản chi này để đảm bảo các hoạt động đầu tƣ phần nhàn rỗi của quỹ đƣợc diễn ra bình thƣờng và đạt hiệu quả cao. Về mặt kế toán, khoản chi này có thể lấy trong tổng thu đƣợc từ lợi nhuận đầu tƣ.
- Chi dự phòng: Đây là khoản dự trữ có thể phát sinh trong năm ngoài dự liệu.