đặt vấn đề khác nhau ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội gần với khái niệm trợ giúp xã hội, là một trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh. Với mục đích khắc phục rủi ro, trợ giúp xã hội cùng với bảo hiểm xã hội có chức năng giảm thiểu rủi ro, và chính sách thị trƣờng lao động chủ động nhằm phòng ngừa rủi ro cho ngƣời dân [45]. Trợ giúp xã hội còn đƣợc xem nhƣ “phao cứu sinh” nhằm hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội không bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng hóa [24].
Nhƣ vậy ở Việt Nam bảo trợ xã hội có nội hàm hẹp hơn so với an sinh xã hội và đƣợc triển khai dƣới hình thức trợ cấp xã hội trên thực tế. Từ điển thuật ngữ an sinh xã hội của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội không có thuật ngữ “bảo trợ xã hội” mà chỉ có khái niệm “trợ giúp xã hội” là “sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nƣớc (lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp từ ngƣời dân) nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tƣợng đƣợc nhận [44]. Mặc dù các tổ chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về bảo trợ xã hội song tất cả đều nhấn mạnh bản chất của bảo trợ xã hội thông qua các can thiệp chính sách cần thiết của nhà nƣớc và các hoạt động tình nguyện ở cộng đồng. Lấy ví dụ, Ngân hàng Thế giới (WB) nhấn mạnh vào 9 việc kiềm chế nguy cơ gây tổn thƣơng, làm mất nguồn sinh kế.
Trong khi đó, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại hƣớng vào khả năng duy trì mức sống thông qua việc làm nhƣ một quyền của ngƣời lao động, đặc biệt trong khu vực phi chính thức. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) lại chú trọng đến tính dễ tổn thƣơng của ngƣời dân khi gặp rủi ro nếu không có sự bảo trợ xã hội cụ thể: Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) “Bảo trợ xã hội là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nƣớc hoặc tập thể, cộng đồng ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp” [26]. Tổ chức này muốn nhấn mạnh về khía cạnh bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tƣợng ở khu vực kinh tế không chính thức. Định nghĩa này có xu hƣớng nghiên về mức sống và quyền con ngƣời.
Cơ quan này thiên về những giả thuyết gắn với điều kiện lao động. Ngân hàng Thế giới (WB) “Bảo trợ xã hội là những biện pháp cộng đồng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó và kiềm chế đƣợc nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thƣơng và những bấp bênh thu nhập” [26]. Định nghĩa này nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ, bảo trợ xã hội vừa là mạng lƣới an toàn, vừa là cơ sở để phát triển vốn con ngƣời. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) “Bảo trợ xã hội là các chính sách, chƣơng trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trƣờng lao động, giảm thiểu rủi ro của ngƣời dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập” [16].
ADB cũng cho rằng BTXH có 5 hợp phần chính (i) Các chính sách chƣơng trình thị trƣờng lao động, (ii) Bảo hiểm xã hội, (iii) Trợ giúp xã hội, (iv) Quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng và (v) Bảo vệ trẻ em. Đây cũng là phần có tính truyền thống của bảo trợ xã hội theo quan niệm của ADB. Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thƣơng nếu ngƣời dân không có bảo trợ xã hội và tác hại của thiếu bảo trợ 10 xã hội đối với ngƣời khác, tập trung vào khía cạch cải thiện thu nhập; hoàn thiện thể chế thị trƣờng lao động và nâng cao năng lực của ngƣời dân. Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI) “Bảo trợ xã hội là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tổn thƣơng, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận đƣợc về mặt xã hội” [16].
Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thƣơng và bần cùng hóa, do vậy bảo trợ xã hội hƣớng vào ngƣời nghèo hoặc những ngƣời khó khăn nhất thuộc tầng lớp không ai mong muốn nhất trong xã hội. Nhƣng cho dù theo định nghĩa nào, các tổ chức quốc tế đều thống nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội nhƣ một biện pháp kiềm chế nguy cơ bị tổn thƣơng, duy trì đƣợc thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo. Mục đích của bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo thu nhập và các điều kiện sống thiết yếu đối với các trƣờng hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ sức lo liệu đƣợc cuộc sống. Đối với Việt Nam, bảo trợ xã hội nhƣ một lƣới an toàn nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của ngƣời dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro và tự bản thân không khắc phục đƣợc.
Các hoạt động cứu trợ xã hội, giảm nghèo nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thƣơng ở những đối tƣợng yếu thế, mất nguồn thu nhập và sinh kế và không có điều kiện tiếp cận đƣợc các dịch vụ xã hội cơ bản. - Quan điểm hiện đại về bảo trợ xã hội xem xét sự trợ giúp dƣới ba hình thức: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp xã hội và dịch vụ xã hội. Tóm lại bảo trợ xã hội là những giải pháp, sáng kiến nhằm đem lại thu nhập và dịch vụ cơ bản cho các cá nhân và nhóm yếu thế, bảo vệ họ khỏi các nguy cơ đe dọa sinh kế, đói nghèo, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thƣơng, thúc đẩy công bằng xã hội. - Hiện nay, thuật ngữ BTXH đƣợc tiếp cận dƣới nhiều tên gọi khác nhau nhƣ là ASXH, bảo tồn xã hội, bảo đảm xã hội…nhƣng nhìn chung chúng đều muốn góp phần bảo vệ xã hội nhờ nhiều biện pháp công cộng 11 nhằm giúp đỡ chống lại sự thiếu hụt về kinh tế mà họ có thể gặp phải nhƣ là mất đi hoặc giảm đi nguồn thu nhập bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.
- BTXH còn thể hiện sự giúp đỡ, chăm sóc về y tế, văn hóa và trợ giúp cho các gia đình góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Qua một số cơ sở lý luận nêu trên có thể đƣa ra khái niệm về BTXH nhƣ sau: BTXH là hệ thống các chính sách, chế độ, những hành động chủ yếu của Nhà nước và cộng đồng xã hội bằng các hình thức khác nhau nhằm giúp các đối tượng yếu thế giảm nhẹ và kiềm chế nguy cơ dễ bị tổn thương, bần cùng hóa, hòa nhập với cộng đồng, có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, thúc đẩy công bằng và góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nƣớc là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của công dân và mọi tổ chức trong xã hội nhằm duy trì và phát triển trật tự trong xã hội, bảo toàn, củng cố và phát triển quyền lực của Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, chủ thể quản lý ở đây là nhà nƣớc, đối tƣợng quản lý là các quá trình xã hội, hành vi cá nhân và tổ chức xã hội, phƣơng thức quản lý là bằng quyền lực Nhà nƣớc và có tổ chức cao, mục tiêu quản lý là duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và tăng cƣờng quyền lực Nhà nƣớc.
Quản lý nhà nước về hoạt động bảo trợ xã hội QLNN về hoạt động BTXH là một tập hợp các tác động quản lý của Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể quản lý và sự tham gia của các đối tƣợng BTXH, cơ sở BTXH và các chủ thể khác ngoài Nhà nƣớc để tổ chức đời sống xã hội theo mục tiêu đảm bảo giảm nguy cơ rủi ro cho đối tƣợng yếu thế có cuộc sống cơ bản, tạo nên công bằng xã hội, thực hiện an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. * Về chủ thể quản lý 12 Nhà nƣớc là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động BTXH trong nền kinh tế thị trƣờng. Xuất phát từ tính phức tạp, năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thị trƣờng đòi hỏi mang tính quyền lực nhà nƣớc để tổ chức và điều hành các hoạt động BTXH. Chủ thể ấy chính là nhà nƣớc mà cụ thể hơn là các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức và cá nhân đƣợc nhà nƣớc trao quyền.
Để hoàn thành sứ mệnh của mình Nhà nƣớc phải xây dựng, tổ chức và quản lý các hoạt động BTXH. * Về đối tượng quản lý Đối tƣợng của quản lý nhà nƣớc về BTXH là những cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cần có sự hỗ trợ, trợ giúp nhằm giảm nhẹ tính dễ bị tổn thƣơng và kiềm chế nguy cơ bần cùng hóa. Mỗi đối tƣợng sẽ có chế độ bảo trợ khác nhau, đƣợc quy định cụ thể tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13 tháng 4 năm 2007 về chính sách trợ giúp các đối tƣợng BTXH; Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tƣợng BTXH và Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tƣợng bảo trợ xã hội.