Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử Việt Nam. 6 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC ỨNG DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ 1.
Khái niệm về năng lƣợng nguyên tử và ứng dụng năng lƣợng nguyên tử “Năng lượng nguyên tử” là một khái niệm hết sức cơ bản và quan trọng trong bản luận văn này, có thống nhất cách hiểu về khái niệm này thì mới thống nhất được các giải pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử. Hiện nay, trên thế giới song hành tồn tại hai khái niệm: “năng lượng nguyên tử” và “năng lượng hạt nhân”. Ngay từ khi mới bắt đầu của ngành, một số nhà khoa học đã dùng khái niệm “năng lượng nguyên tử” để nói về năng lượng tỏa ra từ quá trình biến đổi hạt nhân, nên đến nay khái niệm “năng lượng nguyên tử” vẫn tồn tại, do tính lịch sử và thậm chí khái niệm này còn được dùng phổ biến. Về bản chất, năng lượng tỏa ra từ quá trình biến đổi hạt nhân phải được hiểu là “năng lượng hạt nhân”.
Vì vậy dù gọi là “năng lượng nguyên tử” hay gọi là “năng lượng hạt nhân” thì vẫn phải hiểu đó là năng lượng tỏa ra từ quá trình biến đổi hạt nhân. Ví dụ: Luật Năng lượng nguyên tử Hàn Quốc thì sử dụng thuật ngữ “năng lượng hạt nhân”, còn Luật về lò phản ứng và vật liệu hạt nhân của Nhật Bản, đây là một đạo luật cơ bản nhất trong hệ thống pháp lý hạt nhân của Nhật Bản, thì sử dụng thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử”, mặc dù hai khái niệm này đều được hiểu một cách đồng nhất đó là năng lượng tỏa ra từ quá trình biến đổi hạt nhân. Theo Luật Năng lượng nguyên tử được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 3 tháng 6 năm 2008 thì thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử” được hiểu là: “Năng lượng được giải phóng trong quá trình 7 z biến đổi hạt nhân bao gồm năng lượng phân hạch, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng do phân rã chất phóng xạ; là năng lượng sóng điện từ có khả năng ion hoá vật chất và năng lượng các hạt được gia tốc” [19, tr. Đây là khái niệm đầy đủ, chính xác và mang tính khoa học, đã được các nhà khoa học thống nhất sử dụng tại Việt Nam.
Cũng theo Luật Năng lượng nguyên tử hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được hiểu như sau: Hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hoạt động nhằm ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ đời sống kinh tế, xã hội của con người. Hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử bao gồm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, khai thác, quản lý và tháo dỡ cơ sở hạt nhân, cơ sở bức xạ; thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng phóng xạ; sản xuất, lưu giữ, sử dụng, vận chuyển, chuyển giao, xuất khẩu, nhập khẩu nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân; xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ và các dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử [19, tr. Như vậy, hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Ứng dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam bao gồm hoạt động ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và nghiên cứu, phát triển điện hạt nhân.
Ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ đã phát triển rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội khác nhau. Trong lĩnh vực công nghiệp, bức xạ và đồng vị phóng xạ được áp dụng trong điều khiển tự động quá trình sản xuất tại các nhà máy xi măng, nhà máy thép, nhà máy giấy, nhà máy bia…; kiểm tra không phá hu tại các nhà máy đóng tàu, các công trình xây dựng; thăm 8 z dò khai thác dầu khí, khoáng sản và chiếu xạ công nghiệp đã góp phần nâng cao chất lượng, năng suất, hiệu quả kinh tế. Trong lĩnh vực nông nghiệp, bức xạ và đồng vị phóng xạ đã được nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả để tạo giống cây trồng, sản xuất các chế phẩm kích thích tăng trưởng và bảo vệ thực vật, sản xuất phân vi sinh, phân bón, quản lý đất, nước và nghiên cứu bệnh học gia súc. Một số giống cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được tạo ra do đột biến gien khi sử dụng bức xạ từ nguồn phóng xạ và máy gia tốc, đặc biệt là đã tạo ra các giống lúa năng suất, chất lượng cao, thích ứng với các môi trường sinh thái khác nhau.
Trong lĩnh vực y tế, ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ (X-quang, xạ trị, y học hạt nhân) được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị bệnh, góp phần tích cực trong việc chăm lo sức khoẻ cộng đồng. Đây là một trong những kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay được áp dụng để chẩn đoán, điều trị bệnh nan y như ung thư, tim mạch mà các kỹ thuật khác không thể thay thế được. Về nghiên cứu, phát triển điện hạt nhân: Ở Việt Nam hiện nay, nguồn điện năng chính là thu điện, nhiệt điện than và nhiệt điện khí. Năng lượng mới và tái tạo như năng lượng gió, mặt trời, thu triều, địa nhiệt do giá thành sản xuất điện cao, tính phân tán và không ổn định, chỉ có thể tạo ra những nguồn năng lượng nhỏ, chưa thể chiếm t trọng đáng kể trong cân bằng năng lượng.
Các nguồn tài nguyên năng lượng của nước ta đa dạng nhưng không phải dồi dào. Do đó việc khai thác và sử dụng có hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên năng lượng, gìn giữ cho các thể hệ mai sau sử dụng là một trong những phương hướng quan trọng của chính sách năng lượng quốc gia trong thời gian tới. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực ứng dụng năng lƣợng nguyên tử 1. Khái niệm về quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử Kể từ khi con người có nhu cầu lao động và sinh hoạt theo nhóm 9 z nhằm thực hiện những mục tiêu mà con người không thể đạt được với tư cách là cá nhân, riêng lẻ, thì quản lý đã là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp với những nỗ lực cá nhân.
Ngày nay quản lý hiện diện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và hơn thế nữa là nhân tố cần thiết tất yếu để duy trì sự tồn tại và phát triển của các loại hình tổ chức của con người với mọi quy mô và phạm vi khác nhau. Trên thực tế có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải thích về khái niệm, về bản chất, về lý luận và về các kỹ thuật làm cơ sở cho sự thực hành quản lý: theo Học thuyết quản lý theo khoa học (Frederisk Winslow Talor, 1856-1915), quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất; Thuyết Quản lý hành chính (Henry Fayol, 1841-1925), quản lý hành chính là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp với kiểm tra; Thuyết quản lý tổ chức (Chester Irwing Barnard, 1886-1961), quản lý bao giờ cũng là việc quản lý một hệ thống tổ chức nhất định, nó có tính hệ thống và mục đích của nó là làm tăng sức mạnh hệ thống của một tổ chức. Cách quan niệm phổ biến trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý thì quản lý được hiểu theo cả hai nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, công dân nếu được Nhà nước ủy quyền, giao quyền thực hiện chức năng Nhà nước.
Quản lý nhà nước ở đây không phải là quản lý các tổ chức chính trị gọi là Nhà nước, mà là sự quản lý mang tính chất nhà nước do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, trên cơ sở quyền lực Nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước. Quản lý nhà nước là tổng thể các hoạt động của các cơ quan, cán bộ Nhà nước có thẩm quyền tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi 10 z hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ và trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước hay còn được gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước hay hoạt động chấp hành, điều hành. Theo nghĩa này, hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, đứng đầu là Chính phủ.
Mặt chấp hành của hoạt động quản lý thể hiện ở việc chấp hành thực tế các văn bản của các cơ quan quyền lực nhà nước. Mặt điều hành của hoạt động quản lý nhà nước thể hiện ở việc là chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý. Trong hoạt động điều hành, cơ quan quản lý có thể áp dụng các hình thức tổ chức - xã hội trực tiếp và những hình thức mang tính chất pháp lý khác, song đặc trưng của hoạt động điều hành là ban hành văn bản dưới luật mang tính chất pháp lý - quyền lực. Hoạt động điều hành được đảm bảo bằng khả năng áp dụng cưỡng chế, trong đó chủ yếu là ban hành các văn bản cụ thể cá biệt.
Trên thực tế, hoạt động chấp hành đồng thời cũng bao hàm cả sự điều hành, bởi trong đa số các trường hợp, thiếu hoạt động điều hành thì không thể có hoạt động chấp hành một cách nghiêm túc được.