CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG HỢP CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Kinh tế nông nghiệp và QLNN đối với kinh tế nông nghiệp không phải là một chủ đề mới; nội dung này đã được các học giả, các nhà nghiên cứu và các học viên sau đại học lựa chọn làm đề tài nghiên cứu tương đối phổ biến. Sở dĩ như vậy bởi từ trước đến nay nông nghiệp vẫn luôn giữ vai trò chủ chốt trong phát triển kinh tế ở nước ta, kể cả trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình nghiên cứu luận án này, NCS đã thu thập được gần 100 đầu tài liệu có liên quan đến luận án, bao gồm cả những tài liệu trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau: bài tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học, đề án, văn bản QLNN, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, giáo trình, các sách tham khảo và chuyên khảo.
Các tư liệu này tập trung vào 3 hướng nghiên cứu chính sau đây: Thứ nhất, nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp bao gồm 3 tiểu ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản…, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Thứ hai, nghiên cứu về CNH-HĐH nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững Thứ ba, nghiên cứu về QLNN đối với kinh tế nông nghiệp theo các nội dung của quản lý như các chính sách phát triển, quy hoạch và kế hoạch phát triển, công tác thanh kiểm tra và giám sát, đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp… Phần dưới đây, luận án tổng hợp lại các tài liệu có liên quan đã thu thập được theo 3 nội dung đã đề cập ở trên, tuy nhiên việc phân loại này chỉ mang tính chất tương đối bởi vì đa phần các công trình nghiên cứu đi xuyên suốt từ thực trạng đến chính sách, quản lý của Nhà nước. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những nội dung phục vụ cho việc nghiên cứu luận án này cũng như những 8 điểm khác biệt của các công trình khoa học đã công bố trước đó so với luận án của tác giả. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp Công trình nghiên cứu “Effects of Trade Liberalisation on Agriculture in Vietnam: Institutional and Structural Aspects” (Ảnh hưởng của Tự do hóa thương mại đến nông nghiệp ở Việt Nam: xem xét khía cạnh thể chế và cơ cấu kinh tế)được thực hiện bởi tác giả Nguyen Trung Que 12/2008 – Trung tâm Điều phối vùng về Nghiên cứu và Phát triển khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (CGPRT).
Nghiên cứu này đã chỉ ra vai trò rất quan trọng của nền nông nghiệp đối với kinh tế của Việt Nam cũng như những biến chuyển trong nước và quốc tế tác động đến nông nghiệp Việt Nam. Theo tác giả Nguyễn Trung Quế, trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức một cách rõ ràng vấn đề này, từ đó, rất nhiều định hướng, giải pháp cũng như chiến lược đã được thực thi, khuyến khích nông dân và đại lý nông sản tăng cường sản xuất nông nghiệp, tạo khả năng cho việc mở rộng thị trường. Nghiên cứu này cũng khẳng định rằng, những thành tựu mà Việt Nam có được trong nông nghiệp chủ yếu và quan trọng nhất là do Việt Nam đã định hướng sự phát triển của nông nghiệp theo kinh tế thị trường. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích hộ gia đình và doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, tự do lưu thông hàng hóa trong nước và xuất khẩu sang khu vực cũng như thị trường thế giới.
Các chính sách về thuế, đầu tư, vốn, cơ sở hạ tầng v.v… đã dần từng bước vững chắc bắt kịp với tình hình phát triển kinh tế. Mặc dù, nghiên cứu này cho biết bức tranh tương đối toàn diện về tình hình sản xuất nông nghiệp cũng như xuất khẩu nông sản ở nước ta cùng với những hạn chế cốt lõi trong ngành này, tuy vậy, phần nội dung đề cập đến chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp còn tương đối ít và tính cập nhật không cao, chủ yếu chỉ phân tích về thực trạng của ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian cách đây khoảng 20 năm về trước. [79] Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Đánh giá những đóng góp của kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp đến tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam” (2009) – Chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Thị Tuệ Anh – Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương CIEM. Mục tiêu cuối cùng của đề tài là đánh giá đóng góp của các ngành kinh tế và 9 chuyển dịch cơ cấu ngành vào tăng trưởng NSLĐ ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH. Ưu điểm nổi bật của đề tài là đã sử dụng phương pháp định lượng SSA tổng quát, chạy mô hình kinh tế lượng để đánh giá đóng góp của các ngành kinh tế, trong đó bao gồm cả ngành nông nghiệp cũng như chuyển dịch cơ cấu ngành vào tăng trưởng NSLĐ. Kết quả của nghiên cứu đã đưa ra những nhận định khá bất ngờ về đóng góp của ngành nông nghiệp đến gia tăng NSLĐ ở nước ta. Ngành nông nghiệp đóng góp cao vào nhịp tăng NSLĐ nội bộ các ngành mà nếu không qua nghiên cứu này có thể nhận định rằng nông nghiệp làm giảm tốc độ tăng trưởng NSLĐ tổng thể là do vấn đề năng suất của ngành.
Kết quả phân tích định lượng đã chứng tỏ đó là do tác động của chuyển dịch cơ cấu. Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp là rất cần thiết không chỉ mang lại giá trị gia tăng cao cho ngành mà còn có đóng góp lớn vào việc gia tăng NSLĐ của cả nước.[2] Kết quả nghiên cứu dự án mang tên: “Srategic Choices for Agricultural and Rural Development in Vietnam” (Lựa chọn chiến lược cho phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020) của các tác giả Ian Coxhead, Kim N.B Ninh, Vu Thi Thao, Nguyen Thi Phuong Hoa thuộc Quỹ Châu Á (The Asia Foundation) tháng 1/2010. Đây là công trình nghiên cứu nằm trong khuôn khổ thực hiện “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 2011-2020”. Cũng như những nghiên cứu khác, tài liệu này trước hết cũng trình bày tổng quan về phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam như nông nghiệp với tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập cho nông thôn.
Có một điểm khác biệt trong nghiên cứu này là có đề cập đến việc phát triển nông nghiệp ở một số nền kinh tế Châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia, Phillippines… và đồng thời có sự so sánh với nông nghiệp Việt Nam trên các mặt: GDP trong nông nghiệp, lao động nông nghiệp, đất nông nghiệp bình quân đầu người… Phần nội dung này rất hữu ích cho tác giả trong việc nghiên cứu những kinh nghiệm quốc tế trong QLNN đối với kinh tế nông nghiệp để rút ra các bài học có thể vận dụng vào luận án. Phần cuối của nghiên cứu, các tác giả đã dành 6 trang để phân tích lựa chọn chính sách phát triển nông nghiệp mang tính gợi mở cho Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020. Trong báo cáo này, phần đầu đề cập đến hiện trạng phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam giai đoạn 2012-2016. Báo cáo nhấn mạnh đến những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong suốt 25 năm đổi mới trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản như tốc độ tăng trưởng 5,22% mỗi năm, cơ cấu nông nghiệp đã và đang thay đổi mạnh mẽ theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và tăng trưởng hướng ra thị trường, đáp ứng nhu cầu… Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, báo cáo cũng chỉ ra những hạn chế trong khu vực nông nghiệp ở nước ta.
Cụ thể là, tăng trưởng nông nghiệp bị chững lại do các yếu tố như đất đai, phân bón, thuốc trừ sâu cũng như hệ thống tưới tiêu đã đạt ngưỡng giới hạn. Việc chia cắt đất đai, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sản xuất thấp và chất lượng sản phẩm kém, vệ sinh thực phẩm yếu, dây chuyền cung cấp manh mún và quản lý, kiểm soát yếu kém đã và đang là những nguyên nhân chính dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp của sản xuất nông nghiệp.Báo cáo cũng đã đề cập mang tính liệt kê các chính sách và chương trình của Chính phủ trong nông nghiệp, nông thôn như: (1) Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ; (2) Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020; (3) Nghị quyết 26/NQ-TU về Tam nông (Nông nghiệp, nông dân và nông thôn); (4) Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tái cơ cấu khu vực nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị và phát triển bền vững; (5) Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đến 2020; (6) Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; (7) Chương trình cắt giảm khí thải nhà kính trong phát triển nông nghiệp và nông thôn 2010-2020… Nhìn chung, báo cáo này đã cho NCS có một cái nhìn khách quan về hiện trạng nông nghiệp của Việt Nam, những thành công, những hạn chế cũng như hệ thống các chính sách và chương trình của Nhà nước đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, do mục đích của báo cáo là làm căn cứ cho việc thiết lập các chương trình hỗ trợ của FAO cho Việt Nam nên phần nội dung có liên quan đến QLNN mới chỉ dừng lại ở mức hệ thống hóa chứ chưa đề cập đến việc thực thi và đánh giá. [76] Công trình nghiên cứu: “Moving out of agriculture: structural change in Vietnam”(Những bước tiến trong nông nghiệp: thay đổi cơ cấu ở Việt Nam) (2013) của các tác giả Brian McCaig và Nina Pavenick.
Tài liệu này tập 11 trung nghiên cứu vai trò của sự thay đổi cấu trúc trong phát triển kinh tế ở Việt Nam từ 1990 đến 2010.Các tác giả đã thảo luận về vai trò của cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp, doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với sự dịch chuyển mạnh mẽ lực lượng lao động từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ và gia công sản xuất, nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự di chuyển nhân công từ các hộ gia đình sang các hãng trong khu vực doanh nghiệp, và sự phân phối lại công nhân từ doanh nghiệp Nhà nước sang khu vực tư nhân trong nước và có vốn đầu tư nước ngoài.