Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ Ở CẤP HUYỆN 1. Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hoá ở cấp huyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa theo nghĩa rộng là tất cả những giá trị sáng tạo về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhắm mục đích phục vụ cho con người.
Hiện nay có nhiều định nghĩa về văn hóa. Văn hóa có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả những giá trị sáng tạo về vật chất và tinh thần của con người, ví dụ những sáng tạo về nhà cửa, cấu cống, đô thị, quần áo, các phương tiện vật chất, v.…, những sáng tạo về ngôn ngữ, tư tưởng, pháp luật văn học,v. Cả hai khía cạnh sáng tạo đó đó là một phần của văn hóa.
Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm tất cả các giá trị tinh thần gồm có tư tưởng, hệ tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục và đào tạo, khoa học & công nghệ, thông tin, truyền thông, báo chí, văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh…Văn hóa còn cỏ cả trang phục, cách cư xử, văn hóa ẩm thực và giao lưu văn hóa với nước ngoài… đều là các lĩnh vực khác nhau của văn hóa. Một cách hiểu thông thường văn hóa là tất cả những giá trị sáng tạo về vật chất và tinh thần của con người. Vì thế chúng ta nói một người nào đó, dân tộc nào đó có văn hóa cao, thấp là thể hiện giá trị sáng tạo văn hóa cao hoặc thấp, văn hóa cách mạng hay văn hóa vô sản. Khái niệm theo nghĩa rộng nhất, văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ sáng tạo vật chất, tinh thần trong mọi hoạt động đời sống của con người.
Như vậy văn hóa là những gì sáng tạo liên quan đến tinh thần và cả sáng tạo vật chất. 8 Bản chất của văn hóa là luôn chứa đựng mọi sáng tạo, sáng tạo mọi giá trị mới trong hoạt động sống của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh. Nói đến văn hóa là nói đến sáng tạo của con người, do con người. Nói đến con người sáng tạo cũng là nói sáng tạo ra các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần.
Văn hóa là giá trị sáng tạo khi con người có ý thức sáng tạo nhận thức của mình và thế giới xung quanh. Sáng tạo văn hóa chứa đựng các tri thức sáng tạo mới và tổng kết kinh nghiệm cũ mở ra sự phát triển con người, hướng con người tới Chân - Thiện - Mỹ, xã hội của con người ổn định, phát triển, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII (12-1997), Đảng ta khẳng định: Văn hóa dân tộc Việt Nam là kết quả tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần do các dân tộc Việt Nam sáng tạo qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước…. Ngày nay, Việt Nam phát triển và hoàn thiệt còn do kế thừa, tiếp thu, phát triển tinh hoa văn hóa của các dân tộc để không ngừng hoàn thiện văn hóa dân tộc.
Văn hóa Việt Nam thể hiện bản sắc dân tộc Việt Nam, tạo nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam.Khái niệm hoạt động văn hóa Hoạt động văn hóa là các hoạt động sáng tạo về vật chất và về tinh thần của con người, có giá trị từ nhiều đời, phục vụ cho cuộc sống, con người. HĐVH còn là hoạt động tư tưởng có khả năng gây hiệu ứng trong xã hội. Văn hóa, còn là những sáng tạo về hoạt động sản xuất vật chất, là một nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì tính đa dạng của HĐVH nên QLNN đối với HĐVH mang tính đặc thù.
QLNN đối với HĐVH thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể của các hoạt động này trong đời sống văn hóa; thể hiện ở QLNN đối với HĐVH ở các cấp từ vĩ mô đến các đơn vị cơ sở. Các HĐVH rất phong phú. Đó là các hoạt động sáng tạo các giá trị tinh thần gồm: 9 Một là, các hoạt động giáo dục, truyền bá tư tưởng, hệ tư tưởng, đạo đức, lối sống; các hoạt động giáo dục và đào tạo, khoa học & công nghệ; các hoạt động thông tin, truyền thông, báo chí; Các hoạt động về văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh. Ngoài ra còn có một số HĐVH chủ yếu như: Hai là, bảo vệ, tôn tạo, trùng tu các di tích văn hóa.
Bảo vệ, trùng tu các di tích văn hóa là để giữ gìn những giá trị nguyên gốc của các di tích văn hóa, phát huy giá trị của nó trong đời sống. Việc trùng tu, tôn tạo các di tích cần giữ được "hồn cốt" của di tích, hướng đến tính hài hòa để phục vụ đời sống nhân dân. Ba là, hoạt động của các thiết chế văn hóa. Các thiết chế văn hóa báo gồm cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức.
tạo thành hệ thống thiết chế văn hóa như: Nhà văn hóa, các thư viện, các nhà bảo tàng, các công viên văn hóa, đình chùa,. Bốn là, hoạt động lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng. Các hoạt động văn hóa lễ hội gắn với sự tôn thờ những người có công với nước, với xã hội, với cộng đồng. Đó là tục lệ thờ cúng tổ tiên và các hoạt động khá duy trì những giá trị cũ, tốt đẹp, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Năm là, hoạt động biểu diễn, nghệ thuật, quảng cáo. Đây là nhóm hoạt động quan trọng. Văn học nghệ thuật phục vụ đông đảo công chúng xã hội, phát huy được truyền thống dân tộc, cái hay cái đẹp của con người, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ nghệ thuật của công chúng. Sáu là, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư là việc làm thường xuyên và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tổ chức Ðảng giữ vai trò nòng cốt để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức và vận động nhân dân tham gia phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” 1. Khái niệm quản lý 10 Quản lý là khái niệm để chỉ hoạt động có mục đích của cá nhân hay tổ chức tác động lên đối tượng là con người (một cá nhân hay nhiều người), hay lĩnh vực hoạt động (giới vô sinh hay sinh vật), nhằm đạt đực mục đích của mình đặt ra. Quản lý tuân theo những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý vì nó có tính khoa học, dựa trên sự vận dụng các quy luật phát triển của nhận thức tự nhiên và xã hội.
Trong thực tiễn, quản lý là một nghệ thuật hướng tới mục tiêu, đòi hỏi nhiều kiến thức khoa học xã hội, khoa học tự nhiên… Quản lý là một hoạt động rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố chính trị xã hội khác nhau. Có một số yếu tố cơ bản trong quản lý là: các yếu tố về chế độ chính trị, về tư tưởng chính trị về đặc điểm xã hội, yếu tố tổ chức, yếu tố quyền lực chính trị, yếu tố thông tin và yếu tố văn hóa dân tộc. Trong xã hội nhất định ở một nước hay ở dân tộc nào đó, quản lý được biểu hiện như là quá trình tổ chức, là sự điều khiển có tổ chức các hoạt động xã hội bằng thể chế pháp luật, chính sách, bộ máy quản lý. Mỗi một chế độ chính trị xã hội, mỗi dân tộc, quốc gia, tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể sẽ xác định nội dung, thực hiện những phương pháp quản lý nhất định để hướng tới mục đích đã đặt ra.
Từ những phân tích trên, có thể khái quát quản lý qua các góc độ sau: Các yếu tố chính trị xã hội do con người tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành đạt mục đích của mình. Quản lý luôn gắn liền với kế hoạch cụ thể, dự báo chính xác, rõ ràng của chủ thể quản lý, để thông qua những thể chế xã hội. Trong hoạt động quản lý nói chung, cần phải có ít nhất phải có chủ thể quản lý là cá nhân hay tổ chức, cơ quan và ít nhất có các đối tượng quản lý là con người hay lĩnh vực, gián tiếp hay trực tiếp tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Hoạt động quản lý bao giờ cũng nhằm đạt được một mục đích nhất 11 định do chủ thể đặt ra.
Còn nhiều yếu tố khác tạo nên hệ thống, tạo ra môi trường là khách thể của hoạt động quản lý. Trong xã hội hiện nay, người ta thường nhắc đến thuật ngữ quản lý xã hội. Để đảm bảo cho đất nước vận hành ổn định, xã hội phát triển, đòi hỏi phải tiến hành QLXH theo các quy luật khác quan, khoa học. QLXH là sự tác động liên tục, có tổ chức của các chủ thể tác động vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, dân tộc và tôn giáo.
QLXH là hoạt động của chủ thể tác động vào các đối tượng quản lý trong xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội theo quy luật khách quan của xã hội và đặc trưng của xã hội. Sự tác động QLXH có ý thức, có hệ thống đến xã hội nhằm chấn chỉnh và hoàn thiện cơ cấu hoạt động xã hội trong quá trình phát triển nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của chủ thể QLXH. QLXH bao gồm chủ thể QLXH và đối tượng QLXH. Chủ thể QLXH là các tổ chức, thiết chế của giai cấp thống trị có quyền lực xã hội ví dụ như nhà nước, hoặc các tổ chức và thiết xã hội bên ngoài nhà nước có quyền được nhà nước giao cho chức năng QLXH.
Đối tượng của QLXH là con người cùng với các lĩnh vực hoạt động, các quan hệ xã hội, kể cả con người thuộc chủ thể QLXH, nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc giới vô sinh hay sinh vật, các nhóm xã hội như các giai cấp, các tầng lớp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước về xã hội là sự tác động của các chủ thể quản lý thuộc Nhà nước, có quyền lực chính trị, có pháp luật, quy định điều khiển đến các đối tượng quản lý trong xã hội nhằm thực hiện mục đích của quản lý do chủ thể quản lý xác định, thực hiện các chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của nhà nước.