Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẠO CÔNG GIÁO 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái quát về Công giáo Công giáo, theo tiếng Hy Lạp là Katholicos, tiếng La tinh Catholicus có nghĩa là phổ quát (Universel), là tôn giáo thờ Thiên Chúa, ra đời vào thế kỷ thứ nhất Công nguyên, ở phía Đông đế quốc La Mã cổ đại. Giáo lý Công giáo, được thể hiện trong Kinh thánh, quan niệm Công giáo cho rằng đó là bản văn linh ứng và trung thực; là những lời mạc khải của Thiên Chúa đối với loài người, là mẫu mực tối cao của đức tin.
Theo Kinh thánh, Thiên Chúa tạo ra trời đất, con người và muôn loài từ hư không trong vòng 6 ngày, con người phải thờ phụng và tiếp tục công trình kiến tạo trái đất của Thiên Chúa. Theo Kinh thánh, tất cả sự tồn tại và biến đổi trong vũ trụ do Thiên Chúa tiền định một cách hợp lý. Về luật lệ và lễ nghi: Công giáo có một hệ thống luật lệ chi tiết và thống nhất thực hiện trên toàn thế giới, thể hiện ở một số nội dung cơ bản: Mười điều răn của Thiên Chúa; Sáu điều răn của Giáo hội; Bảy phép bí tích; Giáo luật 1983 quy định chi tiết các vấn đề về đạo, nhằm tập trung quyền lực và duy trì trật tự Giáo hội. Công giáo có hệ thống lễ nghi quanh năm, với nhiều ngày lễ quan trọng bắt buộc toàn thể tín đồ phải thực hiện.
Về cơ cấu tổ chức: Công giáo có hệ thống tổ chức thống nhất chặt chẽ với 3 cấp hành chính chính thức: Tòa thánh, giáo phận và giáo xứ (tại Việt Nam có thêm giáo họ). - Tòa thánh Vatican: ở Rôma thủ đô Italia là trung tâm điều hành của Công giáo, đồng thời là quốc gia có chủ quyền độc lập theo Công pháp Quốc 12 tế. Giáo hoàng vừa là giáo chủ vừa là người đứng đầu nhà nước, có ảnh hưởng, uy tín lớn trên trường quốc tế. - Giáo phận (diocese): là một cộng đoàn tín hữu trong địa giới nhất định, là cấp hành chính chính thức của giáo hội trực thuộc Toà Thánh về mọi phương diện.
Việc thành lập, bãi bỏ, chia tách giáo phận do Giáo hoàng quyết định. - Giáo xứ (paroisse): là cộng đồng tín hữu nhất định được thiết lập một cách cố định trong giáo phận. Giám mục là người có quyền thành lập, bãi bỏ giáo xứ; có quyền truyền chức, bổ nhiệm, điều chuyển, kỷ luật linh mục; thành lập, giải tán Hội đồng Mục vụ giáo xứ. Bên cạnh hệ thống tổ chức theo hệ triểu, Công giáo có hệ thống dòng tu đa dạng về loại hình và hoạt động chuyên biệt theo tôn chỉ mục đích sáng lập.
Dòng tu là một tổ chức trực thuộc của Giáo hội Công giáo, được thành lập do những người tự nguyện sống chung với nhau trong một cộng đoàn gọi là Tu viện (Couvent) hay đan viện (Monastere - là dòng có gốc ẩn tu) với mục đích giữ đạo và truyền đạo. Mỗi dòng tu có tôn chỉ, mục đích và hoạt động chuyên biệt, mục đích là phục vụ Giáo hội và xã hội. Các tu sĩ trong dòng luôn tuyên giữ ba lời khấn: khiết tịnh (độc thân), khó nghèo (không có tài sản riêng) và vâng phục. Phẩm trật trong Giáo hội: còn được gọi là hàng giáo phẩm là một tập thể bao gồm những người có chức thánh theo một cơ cấu có các cấp bậc khác nhau.
Phẩm trật theo chức thánh gồm: giám mục, linh mục, phó tế. Những người này lĩnh nhận chức thánh để thi hành mục vụ và bí tích của Giáo hội. Công giáo du nhập vào Việt Nam gần 5 thế kỷ (năm 1533), đến nay trở thành tôn giáo lớn với 41 giám mục, 5.057 giáo xứ, 26 giáo phận thuộc 3 Tổng Giáo phận [18]; 8 Đại chủng viện, 01 Học viện, hơn 124 dòng tu hoạt động ổn định và không ngừng phát triển. Công giáo ở Việt Nam 13 trực thuộc và chịu sự lãnh đạo của Tòa thánh Vatican.
Các giám mục làm việc trong một tổ chức chung gọi là Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hội đồng có nhiệm vụ triển khai chủ trương của Tòa thánh Vatican ở Việt Nam bằng các văn bản trong các kỳ đại hội, hội nghị; liên kết, hiệp thông giữa các giáo phận và toàn Giáo hội. Hoạt động đạo công giáo Theo Khoản 11, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 quy định: Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo [33]. Như vậy có thể hiểu hoạt động công giáo là hoạt động truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của các tổ chức công giáo.
Nghiên cứu Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và các tài liệu liên quan có thể khái quát họat động của đạo công giáo bao gồm các nội dung cơ bản sau: - Hoạt động đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung; đăng ký hoạt động đạo công giáo. - Công nhận; thành lập, chia tách, sát nhập, hợp nhất tổ chức đạo công giáo trực thuộc đạo Công giáo. - Hoạt động phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm Hồng y, Giám mục, Linh mục trong đạo công giáo. - Hoạt động thành lập, quản lý, giải thể các trường thần học, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động trong đạo công giáo.
- Những hoạt động sinh hoạt đạo công giáo trong nước. - Hoạt động sinh hoạt đạo công giáo có yếu tố nước ngoài. - Hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo. - Hoạt động quản lý tài sản; cải tạo, trùng tu, nâng cấp, xây mới công trình kiến trúc đạo Công giáo.
14 - Quan hệ quốc tế của tổ chức đạo Công giáo, chức sắc và tín đồ đạo Công giáo. Quản lý nhà nước về hoạt động đạo công giáo 1. Quản lý nhà nước Hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của nhà quản lý và quy luật khách quan.
Quản lý xã hội là một chức năng xã hội đặc biệt xuất hiện từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa. Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của con người. Những cá nhân hay tổ chức của con người phải là những chủ thể đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý. Khách thể của quản lý là trật tự quản lý.
Trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm tập quán, quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật. Khi nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm- quản lý nhà nước xuất hiện. Quản lý nhà nước hiện nay được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: là dạng quản lý xã hội của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp: là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp) [8] 15 Pháp luật là phương tiện chủ yếu để QLNN.
Bằng pháp luật, Nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xã hội hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động QLNN. Dưới góc độ luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm QLNN theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động quản lý xã hội của các cơ quan hành pháp nhà nước, bằng những công cụ, biện pháp và thẩm quyền được giao, những cơ quan này tác động vào các mối quan hệ xã hội, các nhóm đối tượng trong xã hội để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ theo sự phân cấp nhà nước. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đạo công giáo QLNN đối với các hoạt động tôn giáo nói chung là dạng quản lý mang tính nhà nước nhằm điều chỉnh các quá trình hoạt động tôn giáo của các pháp nhân và các thể nhân tôn giáo bằng quyền lực Nhà nước. Trong đó, hoạt động tôn giáo là những hoạt động như hoạt động tín ngưỡng tôn giáo của tín đồ, hoạt động hành chính tôn giáo của chức sắc, hoạt động của các hội đoàn, tổ chức tôn giáo.
Pháp nhân tôn giáo là những tổ chức tôn giáo có có tư cách pháp nhân, tư cách pháp nhân là cho nhà nước thừa nhận; thể nhân tôn giáo là tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, thể nhân này do các tổ chức tôn giáo thừa nhận [8] Như vậy, QLNN đối với các hoạt động tôn giáo là quản lý bằng pháp luật và theo pháp luật với những phương pháp và phương tiện đặc trưng. Đối với tôn giáo, nghiên cứu các giải pháp, các phương pháp, các thủ pháp giải quyết, dàn xếp từng trường hợp cụ thể như là tính nghệ thuật thì quản lý phải là hướng ưu tiên. Có nghĩa là không giống với các lĩnh vực QLNN khác, QLNN đối với các hoạt động tôn giáo lấy việc tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục là chính chứ không lấy việc thực hiện quản lý mang tính mệnh lệnh đơn phương một chiều làm chủ đạo. Người làm công tác QLNN đối với các hoạt động tôn giáo phải đảm bảo được đường lối, chính sách về 16 tôn giáo của Đảng và nhà nước, đảm bảo đời sống tín ngưỡng của nhân dân phát triển bình thường và thể hiện được quan điểm ở Việt Nam hiện nay, sự phát triển của tôn giáo phải gắn bó đồng thời với sự phát triển của đất nước, của dân tộc.
Và đối với hoạt động của đạo công giáo, QLNN thực chất đó là những tác động, điều hành của các cơ quan nhà nước, tới các hoạt động của các tổ chức đạo Công giáo bao gồm: hoạt động truyền bá đạo Công giáo, sinh hoạt Công giáo và quản lý tổ chức của đạo Công giáo.