Chương 1. Tổng quan công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án - Chương 2. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành - Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành ở Việt Nam - Chương 4.
Phương hướng và giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành ở Việt Nam Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Đạo Tin lành là một trong những tôn giáo quốc tế, có lịch sử hình thành, phát triển hơn năm thế kỷ và có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đạo Tin lành được truyền vào nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ thứ XX [132, tr.21- 23], vì sự khác biệt về văn hóa và nhiều nguyên nhân khác nên không được các tầng lớp nhân dân Việt Nam tiếp nhận và tin theo. Tuy nhiên, từ 1986 trở lại đây, đạo Tin lành lại phát triển mạnh mẽ, với số lượng hệ phái và quy mô tín đồ ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, trong cộng đồng một số đồng bào DTTS. Sự gia tăng nhanh chóng của đạo Tin lành đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội ở Việt Nam, cá biệt có những hành vi lợi dụng đạo để xâm hại đến an ninh, trật tự của đất nước.
Nghiên cứu về tôn giáo, đạo Tin lành; tìm hiểu về những quan điểm, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo và QLNN đối với hoạt động tôn giáo, đạo Tin lành là những chủ đề không chỉ nhận được nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức nhà nước, mà còn là sự quan tâm của nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà thần học, chức sắc tôn giáo, những học giả trong và ngoài nước. Những công trình nghiên cứu đó thực sự là những nguồn tư liệu quý cho nhân loại và có thể khái quát như sau: 1. Những công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo; quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc và quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động tôn giáo 1. Những công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo; quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo Tìm hiểu cơ bản và nghiên cứu về những chủ trương quan điểm của Đảng, chính sách nhà nước về tôn giáo là một chủ đề được khá nhiều các nhà khoa học, các nhà quản lý ở nước ta rất quan tâm, có thể kể đến một số công trình sau: - Sách chuyên khảo: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo”, của tác giả Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ.
Thông qua cuốn sách, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn những tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo; về mối quan hệ giữa tôn giáo với một số lĩnh vực của đời sống xã hội: mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc [85, tr.24- 26]; mối quan hệ giữa đạo với đời [85, tr.27-28]; về mối quan hệ giữa tôn giáo với văn hóa, đạo đức [85, tr.28-32]; về mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị [85, tr. Những vấn đề lý luận và thực tiễn rút ra từ tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do 8 TNTG cho thấy: (1) quyền tự do TNTG có mối quan hệ hữu cơ với nền tự do độc lập của tổ quốc ta, giành được tự do độc lập cho đất nước chính là điều kiện để tôn giáo có độc lập, tự do; (2) quyền tự do TNTG chỉ được đảm bảo trong mối quan hệ với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và với khối đại đoàn kết toàn dân; (3) đảm bảo quyền tự do TNTG trước hết là trách nhiệm của hệ thống chính trị, trong đó Đảng và Nhà nước là nhân tố hàng đầu [85, tr. - Sách chuyên khảo: “Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Lữ. Nội dung cuốn sách là tập hợp các bài viết chuyên sâu về lý luận tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; về tình hình tôn giáo trên thế giới và đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
Theo tác giả đã có nhiều thành công trong việc thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong những năm qua trong công tác tôn giáo, song bên bên cạnh đó cũng còn những hạn chế: (1) một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ, chưa làm tốt công tác vận động và thuyết phục tín đồ; (2) quản lý hoạt động tôn giáo còn cứng nhắc, còn buông lỏng; chưa kiên quyết đấu tranh với những hành vi lệch lạc, sai trái của một bộ phận chức sắc, tín đồ; (3) hoạt động tôn giáo của một số chức sắc, tín đồ ở một số nơi chưa tuân thủ pháp luật, chính sách của nhà nước; (4) có nơi còn lợi dụng cơ sở thờ tự để hành nghề mê tín dị đoan [82, tr. - Sách chuyên khảo: “Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác- Lênin đến thực tiễn Việt Nam” của tác giả Ngô Hữu Thảo. Nội dung cuốn sách tìm hiểu, phân tích những quan điểm của các nhà duy vật biện chứng về công tác tôn giáo như: (1) Quan điểm Mác với việc nhận thức về công tác tôn giáo của hệ thống chính trị; (2) quan điểm của Ph. Ăngghen về vấn đề tôn giáo qua một số tác phẩm kinh điển như tác phẩm Chống Đuyrinh; tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức; Ph.Ăngghen bàn về mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo; (3) quan điểm của V.
Lênin về vấn đề kết nạp người có tôn giáo vào Đảng [108, tr. Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo cho thấy Bác đã khẳng định:“Quyền tự do TNTG ở Việt Nam chỉ có thể được đảm bảo khi gắn liền, hữu cơ với nền độc lập tự do dân tộc của tổ quốc; quyền tự do TNTG chỉ được đảm bảo trong mối quan hệ với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và với khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đảm bảo quyền TNTG trước hết là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng trong đó Đảng và Nhà nước là nhân tố quan trọng hàng đầu” [108, tr. - Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Dương trong cuốn sách: “Quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” đã làm sáng tỏ những cơ sở lý luận về TNTG; quá trình nhận thức của Đảng về vấn đề 9 tôn giáo, công tác tôn giáo và chính sách tôn giáo qua các cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng từ thời kỳ đổi mới đến nay [50, tr. Theo tác giả, tình hình tôn giáo Việt Nam hiện nay mang 7 đặc điểm cơ bản: (1) bộ mặt tôn giáo có sự thay đổi; (2) sự trở lại của niềm tin tôn giáo; (3) các tôn giáo ngày càng được củng cố và phát triển; (4) kiện toàn hành chính đạo và bộ máy nhân sự; (5) gắn bó và đồng hành cùng dân tộc; (5) ẩn chứa nhiều yếu tố tiêu cực; hiện tượng tôn giáo mới luôn diễn biến phức tạp [50, tr.
Tác giả cũng đã đã trình bầy kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam so sánh, đối chiếu với một số quốc gia trên thế giới như: kinh nghiệm của Trung Quốc, kinh nghiệm của Thái Lan [50, tr. - Nghiên cứu của Phạm Hữu Xuyên về“Quan điểm Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo” cho thấy, với Hồ Chí Minh tự do tín ngưỡng thực sự chỉ có được khi đất nước được độc lập. Nói cách khác tự do tín ngưỡng phải gắn với lợi ích của cả dân tộc, tự do tín ngưỡng không phải để duy trì và biện hộ cho quan hệ thống trị giai cấp [135, tr.57] và quyền tự do tín ngưỡng là quyền dân chủ, được pháp luật thừa nhận, cũng như các quyền khác; quyền phải gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân [135, tr. Tác giả cho rằng: “Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh sự tương đồng giữa tôn giáo với chủ nghĩa cộng sản và người ít đề cập đến sự khác biệt giữa hai hệ tư tưởng.
Trong công tác TNTG, Hồ Chí Minh luôn có quan điểm đề cao sự tương đồng, tôn trọng sự khác biệt; ứng xử khoan dung với tôn giáo; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh tránh sự chia rẽ của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng”[135, tr. - Bài viết của tác giả Lưu Ngọc Khải với chủ đề “Đảng và Nhà nước đổi mới chính sách tôn giáo - Phát huy truyền thống Đại đoàn kết các dân tộc” cho thấy những thay đổi trong nhận thức và quan điểm của Đảng; chính sách của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo được thể hiện qua những văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước như: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”;“Đảng và Nhà nước ta không phân biệt đối xử giữa các tôn giáo, giữa những người theo đạo hoặc không theo đạo”;“Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng”;“Công tác tôn giáo là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, do Đảng lãnh đạo” và “các tôn giáo và các tín đồ đều có quyền truyền đạo, hành đạo hợp pháp tại cơ sở thờ tự, tại tư gia” [77, tr. Theo tác giả những đổi mới về quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về TNTG đã đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tôn giáo và tín đồ theo đạo, để đồng bào, tín đồ, chức sắc tôn 10 giáo không bị mặc cảm mà hòa hợp cộng đồng các dân tộc làm tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc [77, tr.