Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập các tỉnh vùng Tây Nguyên Chương 3: Định hướng phát triển, giải pháp quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập các tỉnh vùng Tây Nguyên KẾT LUẬN - DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN - DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - CÁC PHỤ LỤC 8 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Một số công trình nghiên cứu liên quan về quản lý đối với giáo dục NCL từ thực tiễn một số nước phương Tây, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Trên thực tế, XHH các lĩnh vực KT – XH nói chung và phát triển hệ thống trường NCL ở các nước phương Tây cũng như nhiều nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã được tiến hành từ rất lâu. Các nước trên thế giới đã có không ít công trình nghiên cứu chính sách, cơ chế – phương thức quản lý và cũng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), một số nhà nghiên cứu nước ngoài đã có một số công trình nghiên cứu, giới thiệu – khuyến nghị về phát triển và quản lý các cơ sở NCL trong lĩnh vực giáo dục với các đề tài như: - Ngân hàng Thế giới (WB): “Nhà nước trong một Thế giới đang chuyển đổi”; Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” (Tài liệu dịch), trong đó, có phần viết của S.
Chiavo-Campo và P. Sundaram: “Sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao kết quả hoạt động của trường học phổ thông”; - Tooley, James (1999): “Công nghiệp giáo dục toàn cầu, những bài học từ giáo dục tư thục ở các nước đang phát triển” (The Global Education Industry, Lessons from Private Education in Developing Countries), Institute of Economic Affairs, London; - Le Grand, J. & Barlett, W (1993): “Chuẩn thị trường và chính sách xã hội” (Quasi–markets and Social Policy), Macmillan, London. Công trình nghiên cứu này chỉ ra rằng sự tồn tại của thị trường giáo dục đã là một thực tế được chấp nhận trong giáo dục.
Tuy nhiên, đây là một thị trường đặc biệt, về bản chất, khác với thị trường hàng hóa hoặc thị trường trong các lĩnh vực dịch 9 vụ khác. Điểm khác biệt cơ bản là ở chỗ trong thị trường giáo dục, bên cạnh cơ chế cạnh tranh và các nhà cung ứng giáo dục tư nhân, nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng giáo dục, quản lý chất lượng, bảo vệ quyền lợi người học nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục. Một thị trường như vậy không phải là thị trường theo nghĩa truyền thống, thị trường giáo dục chỉ gần đúng là một thị trường. Các tác giả Le Grand và Barlett gọi đó là “chuẩn thị trường” (quasi–market).
- Đã có nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài về tác động của quản lý công mới (QLCM) đối với việc đổi mới quản lý giáo dục. Mackie và Williamson (2007) chỉ ra những tương quan giữa QLCM với những thay đổi về quản lý suốt 15 năm trong giáo dục tiếp tục ở Xcotlan. Tolofari (2005) nghiên cứu những thay đổi về cơ chế quản trị và tổ chức nhà trường dưới tác động của QLCM. Nhìn một cách tổng quát, các công trình trên đây đã đi vào nghiên cứu những vấn đề vĩ mô về đổi mới QLNN, QLCM và có phần liên quan đến QLNN đối với giáo dục NCL, đặc biệt là các vấn đề về tạo điều kiện – quan tâm lợi ích của mối quan hệ đối tác, thị trường dịch vụ giáo dục, xã hội công dân và QLNN; thể chế hóa sự tham gia của nhân dân và của các tổ chức cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của trường phổ thông nói chung, hệ thống trường phổ thông NCL nói riêng.
Các nhà khoa học, học giả trong nước cũng đã có một số công trình nghiên cứu – tổng kết kinh nghiệm của nước ngoài về nhận thức, quan điểm, phát triển và quản lý hệ thống trường NCL. để từ đó phân tích chính sách, khảo sát thực tiễn, khuyến nghị những giải pháp về phát triển và quản lý hệ thống trường NCL của Việt Nam như: - Nguyễn Như Ất: “Từ tình hình phát triển các trường ngoài công lập Liên Bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam: thử tìm giải pháp có tính đột phá về lĩnh vực này”; 10 - Nguyễn Hữu Châu: “Về định hướng chiến lược giáo dục đầu thế kỷ XXI của một số nước trên thế giới”; - GS. TSKH Vũ Đình Cự (chủ biên): “Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI”; - GS. VS Phạm Minh Hạc, PGS.
TS Trần Kiều, PGS. TS Đặng Bá Lãm, PGS. TS Nghiêm Đình Vỳ: “Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI”; - Nguyễn Cảnh Chất biên dịch: “Hành chính công và quản lý hiệu quả chính phủ”. - Nguyễn Quang Kính biên dịch: “Cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI – Bảo đảm để dẫn đầu trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa”.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước về cải cách DVC, đổi mới quản lý giáo dục NCL và QLNN đối với hệ thống trường NCL Việt Nam có những nét đặc thù riêng về thể chế, là nước đang phát triển – tiếp cận nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và đang trong quá trình hội nhập quốc tế.
Từ chủ trương đổi mới, qua quá trình XHHGD và phát triển hệ thống trường NCL cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thị trường dịch vụ giáo dục; mô hình, hoạt động của trường phổ thông NCL; chính sách và một số lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN có liên quan: - Đề tài “Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập quốc tế” do PGS. TS Trần Quốc Toản (2010) làm chủ nhiệm. Đây là công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước đã đi vào nghiên cứu tương đối toàn diện những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa giáo dục và thị trường trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy: Giáo dục tạo ra được những sản phẩm hàng hóa dịch vụ đặc biệt với nhiều cấp độ và tính chất khác nhau, do đó, tồn tại một thị trường dịch vụ giáo dục.
Quá trình phát triển thị trường giáo dục được gọi là thị trường hóa trong giáo dục; bản chất của quá trình này là sử dụng các giải pháp, công cụ của thị trường, cơ chế thị trường để phát triển giáo dục. 11 - Các bài viết của TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến: “Quản lý công mới và tác động của nó lên giáo dục Việt Nam” (Tạp chí Quản lý Giáo dục, Số 9, tháng 2/2010), “Quản lý công mới trong bối cảnh hình thành thị trường dịch vụ giáo dục ở Việt Nam” (Tạp chí Khoa học giáo dục, Số 65, tháng 2/2011) thể hiện sự tiếp cận về đổi mới quản lý giáo dục theo hướng chỉ ra những đặc trưng nổi bật của thực tiễn giáo dục nước ta trong giai đoạn mới, hội nhập và phát triển, là sự hình thành và phát triển của thị trường dịch vụ giáo dục. Trong tiến trình vận động của giáo dục, đặc biệt khi bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sau khi gia nhập WTO, đã xuất hiện một nhân tố mới rất quan trọng, nhưng còn ít được nghiên cứu, đó là thị trường giáo dục. Sự xuất hiện của nhân tố này buộc quản lý giáo dục phải có những thay đổi căn bản.
Điều này cũng đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới. Có một định hướng khá rõ ràng, đó là việc thay thế mô hình quản lý công truyền thống bằng mô hình QLCM vào trong QLNN cũng như trong tổ chức và hoạt động giáo dục. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực QLNN đối với giáo dục nói chung, quản lý đối với hệ thống trường NCL nói riêng cũng đã có những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như: - GS. Phạm Phụ: “Cơ sở giáo dục trong bối cảnh nền kinh tế thị trường”, “Những chủ đề cần cải cách và 9 kiến nghị về xã hội hóa nguồn lực trong giáo dục”; - PGS.
TS Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí: “Về cải cách giáo dục phổ thông ở Việt Nam”; - GS. TSKH Vũ Ngọc Hải: “Dịch vụ giáo dục”, “Nhận diện thách thức, cơ hội và yêu cầu đối với giáo dục Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, gia nhập WTO và toàn cầu hóa”; - Công trình nghiên cứu của nhóm chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục, các nhà khoa học – nghiên cứu về phát triển giáo dục – đào tạo do bà Nguyễn Thị Bình (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó Chủ tịch 12 nước) làm chủ nhiệm đề tài:“Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ”. Nhiều nhà nghiên cứu thuộc Học viện Hành chính (trước đây là Học viện Hành chính Quốc gia), nhất là ở Viện Nghiên cứu hành chính, Khoa Quản lý nhà nước về xã hội, Khoa Khoa học hành chính, Khoa Quản lý tài chính công. đã có nhiều công trình nghiên cứu, giáo trình, chuyên đề hội thảo khoa học về đổi mới cung ứng DVC, về XHHGD, QLNN về giáo dục.
Trong đó có những phần nghiên cứu sâu về chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển và QLNN đối với cơ sở giáo dục NCL: - TS. Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên), GS.TS Bùi Thế Vĩnh, PGS. TS Lê Chi Mai, PGS. TS Võ Kim Sơn, PGS.
TS Đinh Văn Mậu, PGS. TS Phan Hữu Tích, PGS. TS Trần Đình Ty, PGS. TS Nghiêm Đình Vỳ, TS Nguyễn Văn Thủ.: “Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công – nhận thức, thực trạng và giải pháp”; - PGS.
TS Lê Chi Mai: “Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam”, “Chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước – vấn đề và giải pháp”. Một số nhà nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Quản lý giáo dục cũng đã có một số công trình nghiên cứu – khảo sát về nhu cầu phát triển, hoạt động của trường NCL; quản lý đối với hệ thống trường NCL: - Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã có công trình nghiên cứu của nhóm tác giả do TS.