Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di tích lịch sử. Thực trạng di tích lịch sử và quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Di tích lịch sử Sở dĩ gọi là DTLS, vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hóa của con người. Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Các nước trên thế giới đều đặt chung cho DTLS là dấu tích, vết tích còn lại. Trong tiếng Anh viết là “Vestige”; tiếng Pháp cũng viết “Vestige”; tiếng Nga viết “Pomiatnik”; tiếng Trung Quốc viết “Cổ tích”, do đó mỗi quốc gia đã đưa ra những khái niệm, qui định về DTLS của dân tộc mình. Trong điều I của Hiến chương Venice (Italia) đã quy định rằng: “DTLS bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử”. Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều khái niệm quy định về DTLS nhưng theo Từ điển tiếng Việt đưa ra thì: “Di tích là dấu vết xưa còn lại” [53, tr.292], hoặc “Di tích là cái của người xưa để lại”, tất cả những thuật ngữ trên đều có nghĩa: Di tích là dấu vết hoặc di vật của con người và những giai đoạn lịch sử đã qua còn hiện hữu đến tận ngày nay thì được gọi là di tích.
Pháp lệnh số 14 - LCT/HĐNN của Hội đồng Nhà nước, nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng DTLS và danh lam thắng cảnh quy định rõ: “DTLS là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”. 8 Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2001, tại điều 4 quy định: “DTLS là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”.[24] Như vậy, đã có nhiều khái niệm về DTLS nhưng các khái niệm đều chỉ ra rằng: DTLS là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đối chiếu với cơ sở lý thuyết về quản lý di sản có thể xác định DTLS là đối tượng quản lý cần bàn tới, đối tượng này có những đặc điểm, tính chất khác biệt với các đối tượng quản lý khác. Di tích lịch sử phải có một trong các tiêu chí sau đây: - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; - Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; - Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
[24] Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích) được chia thành: - Di tích cấp tỉnh - Di tích quốc gia - Di tích quốc gia đặc biệt Thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích được quy định như sau: 9 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh, cấp bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh; - Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia; - Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. Di tích cấp quốc gia Là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: - Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; - Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; - Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ; - Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử Quản lý nhà nước về văn hóa Là thông qua những giải pháp về pháp luật, thể chế, chính sách, kế hoạch… của nhà nước để quản lý các giá trị vật chất và tinh thần, quản lý các hoạt động văn hóa theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng đồng thời đảm 10 bảo quyền tự do dân chủ trong hoạt động và sáng tạo văn hóa, xác lập vai trò, vị trí của văn hóa trong sự phát triển của dân tộc. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử Từ các khái niệm về Quản lý và DTLS có thể khái quát và đưa ra một khái niệm về quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử lịch sử như sau: Quản lý DTLS là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các DTLS, làm cho các giá trị của các di tích lịch sử được phát huy theo chiều hướng tích cực.
Vì DTLS là một bộ phận quan trọng, cấu thành nên hệ thống di sản văn hóa. Là sự tác động có định hướng trên cơ sở quyền hành pháp của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước tới hành vi, hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức trong lĩnh vực văn hóa nhằm mục tiêu bảo vệ, gìn giữ di sản, các di tích lịch sử và làm cho các giá trị di sản, di tích lịch sử được phát huy theo chiều hướng tích cực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân. Việc quản lý DTLS cũng cần tiến hành theo nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa được qui định tại điều 54 của Luật Di sản Văn hóa do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2001. Các nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa sẽ được áp dụng như các tiêu chí để khảo cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về DTLS ở tỉnh Đắk Lắk.
Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước vê di tích lịch sử 1. Đặc điểm di tích lịch sử Các di tích lịch sử có những đặc điểm như sau: Di tích lịch sử là những bằng chứng lịch sử còn lưu giữ lại Hệ thống di tích lịch sử mang trên mình nhiều dấu ấn lịch sử. Qua di tích, người ta có thể biết và hiểu về lịch sử của địa phương hay của dân tộc. Thậm chí, qua di tích, giúp cho thế hệ sau hình dung ra cả một chặng đường 11 lịch sử của dân tộc.
Chẳng hạn như, di tích lịch sử Khu căn cứ kháng chiến của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 1965-1975, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Khu căn cứ là nơi đứng chân của Cơ quan Tỉnh ủy, các cơ quan, ban, ngành tỉnh, là đầu mối của nhiều tuyến hành lang trọng yếu thuộc đường hành lang chiến lược Bắc - Nam, Đông - Tây đảm bảo cho sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đối với chiến trường miền Nam kịp thời; đảm bảo sự chi viện sức người, sức của và các phương tiện chiến tranh cho chiến trường miền Nam. Di tích lịch sử mang trong mình những giá trị văn hóa đậm nét Được ra đời từ trong đời sống của nhân dân, trải qua những biến thiên của lịch sử dân tộc. Các di tích lịch sử thể hiện rõ tôn giáo, tín ngưỡng, những đặc điểm văn hóa của từng vùng miền và của dân tộc. Ví như hệ thống các đền thờ Mẫu thể hiện rõ tín ngưỡng thờ mẫu của dân tộc Việt.
Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, tín ngưỡng thờ mẫu vẫn có những nét riêng biệt thể hiện sắc thái văn hóa của địa phương. Ngay cả những di tích chiến tranh, cách mạng vẫn có những giá trị văn hóa đậm nét. Các di tích lịch sử rất dễ dàng bị phong hóa theo thời gian Các di tích đều được làm từ chất liệu gỗ, đá. Trong khi đó, đặc điểm thời tiết Việt Nam là nóng ẩm, mưa nhiều.
Do đó, các di tích dễ dàng bị phong hóa. Đây là một đặc điểm đòi hỏi trong công tác quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử cần hết sức quan tâm đến bảo tồn, trùng tu các di tích lịch sử. Nhiệt độ không khí gia tăng sẽ tác động rất lớn đến loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, đặc biệt là các công trình sử dụng vật liệu gỗ. Các công trình kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng thường được xây dựng bằng nguyên vật liệu truyền thống như gỗ, gạch., nên rất khó đương đầu với thách thức của thời tiết khắc nghiệt.
Sự tác động của nhiệt độ tăng cao, nắng gắt, mưa nhiều kèm theo gió bão sẽ làm cho vật liệu kiến trúc nhanh xuống cấp, hư tổn, giảm tuổi thọ của công trình.