Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin 1. Khái niệm công nghệ thông tin Theo Wikipedia (địa chỉ trên mạng Internet: http://vi.org/wiki/CNTT) Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.Máy tính là thiết bịđiện tử cho phép lập trình, tính toán hay vận hành logic với tốc độ cao hoặc thu thập, lưu giữ, liên kết, xử lý thông tin. Từ những năm 1950 đến nay đã có 4 thế hệ máy vi tính ra đời.
Mỗi thế hệ đều phản ánh sự thay đổi về phần cứng, với việc giảm kích thước nhưng tăng khả năng hoạt động của máy vi tính. Giữa thập kỷ 60 của thế kỷ XX, máy vi tính thế hệ thức ba với kỹ thuật mạch tích hợp và bộ nhớ bán dẫn ra đời. Được sử dụng rỗng rãi trong kinh doanh và quản lý kinh tế. Năm 1981 máy vi tính cá nhân (PC) ra đời.
Hàng triệu máy vi tính được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực. Công nghiệp phần mềm phát triển mạnh. Thập niên 1990: Bùng nổ các mạng viễn thông truyền dữ liệu quốc gia và quốc tế. Internet và các dịch vụ thông tin trở thành “kết cấu hạ tầng” cho một xã hội thông tin hình thành và không ngừng phát triển.
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp download by : skknchat@gmail.com 5 các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội". Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông.Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính. Khái niệm về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin Theo Điều 4 Luật Công nghệ thông tin 2006 đã nêu rõ: Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này.
Phát triển CNTT là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực CNTT; phát triển công nghiệp CNTT và phát triển dịch vụ CNTT. Nội dung ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin - Nội dung ứng dụng CNTT: Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này. - Nội dung phát triển CNTT: Phát triển công nghệ thông tin là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; phát triển công nghiệp công nghệ thông tin và phát triển dịch vụ công nghệ thông tin. Chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin: - Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
download by : skknchat@gmail.com 6 - Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu. - Khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin. - Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để ứng dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp công nghệ thông tin và phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin. - Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia.
- Có chính sách ưu đãi để tổ chức, cá nhân có hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đối với nông nghiệp; nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn. - Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. - Tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Tầm quan trọng của công nghệ thông tin đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Công nghệ thông tin đã và đang có tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội.
Công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT có tầm quan trọng trong việc phát huy vai trò của nó, đó là: Thứ nhất, đảm bảo tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia. Trong xã hội hiện nay, thông tin đã trở thành một nguồn tài nguyên - tài nguyên thông tin. Tài nguyên thông tin cũng giống như những tài nguyên vật chất khác (như đất đai, rừng rậm, khoáng sản, năng lượng…) là tài sản cực kỳ quý giá của đất nước, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Ảnh hưởng của thông tin vô cùng to lớn, một thông tin kinh doanh có giá trị có thể giúp người thương gia kiếm được món lợi nhuận kếch sù, một tin dự báo thời tiết chính xác có thể giúp người nông dân tránh được sự tổn thất lớn, một lời phân tích thị trường cổ phiếu chính xác có thể khiến một người trở thành tỷ phú sau một đêm.
download by : skknchat@gmail.com 7 So sánh với tài nguyên vật chất, tài nguyên thông tin có tính quan trọng đặc thù. Sự quan trọng này do đặc điểm của thông tin quyết định, đó là tài nguyên thông tin có thể dùng lại nhiều lần mà không ảnh hưởng đến giá trị; Sự tăng trưởng về mặt số lượng của tài nguyên thông tin thường là sự phát triển bùng nổ. ; Tốc độ truyền thông tin có thể rất nhanh, có lúc có thể đạt tới tốc độ của ánh sáng; Tài nguyên thông tin không có thế giới, nó có thể thông qua nhiều phương tiện truyền thông đại chúng để truyền đi khắp nơi. Trong thời đại Internet phát triển như ngày nay, phạm vi truyền bá thông tin lại càng rộng.
Việc khai thác và ứng dụng tài nguyên thông tin đã trở thành một ngành nghề kinh doanh của rất nhiều nước - kinh doanh thông tin, và cũng đã trở thành điểm tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế các nước. Tài nguyên thông tin cũng là nguồn tài nguyên mang tính chiến lược quan trọng, vị trí của nó trong các lĩnh vực như quân sự, ngoại giao, chính trị…và giá trị ứng dụng thực tế ngày càng được nâng cao, tài nguyên thông tin và các thiết bị được thông tin hoá đã trở thành thứ dùng để thể hiện sức mạnh tổng hợp của một quốc gia. Bên cạnh vấn đề về tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia cũng được xác định có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội. Cơ sở dữ liệu ngày nay được biết đến như một thư viện, một nguồn thông tin đáng tin cậy là trong đó cơ sở dữ liệu quốc gia là nguồn thông tin có độ tin cậy và tính pháp lý cao.
Mọi thông tin đều có thể truy cập, tiếp cận từ hệ thống các cơ sở dữ liệu khác nhau và có tính mở, nhờ đó các thông tin, dữ liệu đều được chia sẻ và trở thành tài sản chung của cộng đồng. Trong mỗi ngành hiện nay đã có một kho tàng dữ liệu phong phú được tích lũy từ nhiều thế kỷ và cũng đã có một đội ngũ chuyên gia để xây dựng, khai thác kho tàng này. Vì vậy, để tiến tới chính phủ điện tử, các ngành cơ bản như tài nguyên - môi trường, dân cư, tài chính và thương mại đang từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu với việc xây dựng hệ thống dữ liệu, thông tin gồm những đặc trưng cơ bản nhất để làm nền tảng và sẽ được mở rộng cùng với sự phát triển của các ngành cũng như nhu cầu của người dân và chính phủ. download by : skknchat@gmail.com 8 Có thể kể đến một số CSDL quốc gia đã được Chính phủ quyết định xây dựng, trong đó có những CSDL đã được đưa vào khai thác, sử dụng như: Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên và môi trường, Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Cơ sở dữ liệu quốc gia về tư pháp và pháp luật… Để đảm bảo tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia đó thì vai trò của QLNN đối với lĩnh vực CNTT được đặt lên hàng đầu.
Thứ hai, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Sự phát triển nhanh và mạnh của CNTT trong năm qua đã phát sinh nhiều lỗ hổng trong công tác an ninh bảo mật. Nhiều cơ quan, đơn vị đã phải đối mặt với việc hình thành và lan tràn nhiều biến thể virus mới, việc tấn công trên mạng ngày càng nở rộ với quy mô mang tính chất quốc tế rõ rệt với mục đích vụ lợi và đánh cắp tài chính. Các website trong nước liên tiếp bị tấn công với mức độ phức tạp gia tăng, ví dụ mã độc tống tiền wan na.000 trường hợp tại 99 quốc gia.