Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý NNL tại ngân hàng 1. Các khái niệm cơ bản 1.1 Nhân lực Xét trên tầm vĩ mô của nền kinh tế, theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004): “Nhân lực là nguồn lực của con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” (Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2004). Và theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. Xét trên góc độ vi mô, trong từng doanh nghiệp thì: “Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nhân lực của nó. Do đó, có thể nói NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Khái niệm này đã chỉ ra được sức mạnh tiềm ẩn của NNL trong tổ chức khi họ được động viên, khuyến khích kịp thời.
Nói về NNL, tại Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định: “Nguồn lao 6 động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại” [Đảng Cộng sản Việt Nam, 2010]. Còn trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động toàn cầu hóa đối với nhân lực thì định nghĩa: “Nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người.” Đây là cách tiếp cận nhấn mạnh về chất lượng nhân lực, quan tâm tới tiềm năng của con người. Vì vậy có thể hiểu: “Nhân lực là toàn bộ khả năng thể lực và trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động, bao gồm số lượng và chất lượng những người lao động đáp ứng nhu cầu nhất định về loại hình lao động tương ứng của mỗi doanh nghiệp, tổ chức trên thị trường. Nói cách khác nhân lực được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng nhất định để làm công việc nào đó mà xã hội hay thị trường có nhu cầu”.2 NNL trong ngân hàng Trong các nghiên cứu về NNL, người ta phải chú ý tới thành phần cấu thành nên nó là: số lượng NNL và phát triển NNL; và mọi tổ chức, cá nhân đều nhận thức được hoạt động phát triển NNL là hoạt động mang tính chất xuyên suốt trong quá trình phát triển của tổ chức, doanh nghiệp, giữ vai trò tiên quyết trong quá trình tạo giá trị gia tăng trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay.
Thuật ngữ “nguồn nhân lực” xuất hiện đầu tiên vào đầu những năm 80 thế kỷ XX, các phương thực quản lý hiện đại ra đời đã lấy con người làm trung tâm mọi hoạt động của tổ chức. Cụm từ “nguồn nhân lực” có thể xem xét ở hai khía cạnh - “Nguồn” và “Nhân lực”, từ “Nguồn” với ý nghĩa là nguồn gốc, đây là căn nguyên sinh ra nguồn lực, từ “nguồn lực” lại nằm bên trong nội tại của cong người, do đó mà có sự khác biệt giữa nguồn lực là con người với các nguồn lực khác. Còn “nhân lực” là cụm từ chỉ sức lực, sức người, sử dụng trong 7 lao động sản xuất thể hiện dưới dạng các hoạt động cụ thể, gắn với sự phát triển của bản thân con người và kích thích con người tham gia vào quá trình LĐSX. Theo tác giả Lê Thị Mỹ Linh: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp” [Lê Thị Mỹ Linh, 2009].
Khái niệm này đó chỉ ra được sức mạnh tiềm ẩn của NNL trong tổ chức khi họ được động viên, khuyến khích kịp thời. Như vậy, khái niệm NNL có thể được hiểu theo hai nghĩa như sau: + Theo nghĩa rộng: Với cách hiểu này, NNL được coi là tổng hợp nguồn lực tiềm năng lao động của con người trong phạm vi địa phương, vùng/lãnh thổ, quốc gia đã được chuẩn bị ở ngưỡng nào đó mà có thể được tham gia vào trong quá trình phát triển KT-XH của địa bàn, NNL được coi như bộ phận cấu thành của tiềm lực quốc gia. NNL được xem xét trên 3 giác độ: Số lượng, chất lượng và cơ cấu “Một số nội dung về NNL và phương pháp đánh giá NNL”.1: Cách tiếp cận nguồn nhân lực theo nghĩa rộng (Nguồn: Nguyễn Hoàng Nguyên, 2007) + Theo nghĩa hẹp: “NNL là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm những người trong độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có 8 việc làm và những người thất nghiệp” [Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Tấn Thịnh, 2013] NNL của một doanh nghiệp được hiểu là “toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động, sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất trong các doanh nghiệp”.
Như vậy có thể hiểu nhân lực trong DN đã bao gồm tất cả NLĐ đang làm việc tại DN, thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn đối với DN, vận hành doanh nghiệp và không ngừng thích ứng với sự phát triển của DN trong bối cảnh cạnh tranh. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đưa ra khái niệm NNL như sau: “Nguồn nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực, phẩm chất của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất, đang và sẽ sẵn sàng tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội”. Như vậy, NNL trong ngân hàng là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực, phẩm chất của nhân viên ngân hàng được vận dụng ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, đang và sẽ sẵn sàng tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Tiêu chí đánh giá NNL ngân hàng a.
Thể chất của nguồn nhân lực Sức khỏe của nhân lực tại đơn vị Trên thực tế, nền tảng đầu tiên của nhân lực là thể trạng sức khỏe, đây là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố: môi trường vệ sinh, chăm sóc sức khỏe ban đầu, chế độ dinh dường, khám chữa bệnh, điều kiện thể dục, thể thao, hưởng thụ văn hóa học tập,… mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Hơn nữa, cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau. Thường xuyên cải thiện 9 điều kiện lao động, đảm bảo máy móc, nhà xưởng sạch sẽ, vệ sinh, an toàn, đảm bảo về môi trường cho người lao động làm việc.Tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao cho người lao động sau thời gian làm việc căng thẳng, mệt mỏi. Hàng năm, có chế độ nghỉ phép, nghỉ dưỡng sức hợp lý cho người lao động.
Hoạt động thể dục thể thao Trong các hoạt động nâng cao và phát triển về thể lực, các doanh nghiệp còn tổ chức thực hiện các chương trình về thể dục thể thao cho nguồn nhân lực. Nhiều doanh nghiệp lớn đã đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí trong khuôn viên công ty như: sân bóng đa, sân bóng chuyền, sân bóng rổ, bóng bàn, khu nhà ăn, căn tin, phòng giáo dục đào tạo, trạm y tế. Phổ biến nhất ở các doanh nghiệp là tổ chức thường kỳ các phong trào hoạt động vui chơi giải trí cho người lao động nhằm rèn luyện sức khỏe cũng như mang lại tinh thần sảng khoái sau một ngày làm việc. Các hoạt động phong trào hàng năm như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông… thi đấu thể thao giao hữu với các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp khác có nhận được giải thưởng để kích thích tinh thần thể dục thể thao nâng cao sức khỏe.
Khám sức khỏe định kỳ Các doanh nghiệp có nghĩa vụ tổ chức khám sức khỏe định kỳ để theo dõi thông tin về thể lực người lao động. Hoạt động này được tổ chức dưới dạng liên kết hợp tác với đơn vị y tế. Đây là điều rất cần thiết nhất là với những doanh nghiệp mà người lao động làm việc trong môi trường nhiều yếu tố độc hại. Ngoài ý nghĩa chung của khám sức khỏe là khám, sàng lọc định kỳ các bệnh lý thường gặp theo từng độ tuổi, giới tính, địa dư… vì thông qua các cuộc kiểm tra, sẽ biết được tổng trạng của cơ thể, đồng thời dự báo các yếu tố nguy cơ bệnh lý có thể mắc phải thì việc kiểm tra, chăm sóc sức khỏe định kỳ cho người lao động cũng đóng đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo nhân viên của các doanh nghiệp được theo dõi sức khỏe liên tục và toàn diện.
Năng lực hoạt động của NNL Trình độ chuyên môn Trình độ chuyên môn là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá phát triển nguồn nhân lực, tạo ra điều kiện, khả năng tiếp thu và vân dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn để tăng năng suất lao động; sáng tạo những sản phẩm mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của tổ chức nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung. Trên thực tế cho thấy phần lớn người lao động có trình độ chuyên môn cao thì tổ chức đó phát triển nhanh.