Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nguồn nhân lực - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại Công ty TNHH một thành viên 95 Bộ Quốc phòng. - Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực tại Công ty TNHH một thành viên 95 Bộ Quốc phòng. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm, ý nghĩa và vai trò của quản lý nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực Có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét trước hết ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định (Nguyễn Văn Điểm, 2004). Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự quản lý. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể quản lý bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự quản lý kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là khả năng lao động xét trên các khía cạnh số lượng, cơ cấu, chất lượng có thể huy động tham gia hoạt động trong một tổ chức. - Số lượng nguồn nhân lực: o lường thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng. Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với quy mô và tốc độ tăng dân số.
Quy mô và tốc độ tăng dân số càng lớn thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên sự tác động đó phải sau một khoảng thời gian nhất định mới có biểu hiện rõ (vì con người phải phát triển đến một mức độ nhất định mới trở thành người có sức lao động, có khả năng lao động). 6 - Chất lượng nguồn nhân lực: Là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý kinh tế và đời sống người dân trong một xã hội nhất định.
Tóm lại Nguồn nhân lực là những khả năng sẵn có về số lượng, chất lượng của sức lao động để đáp ứng yêu cầu của một tổ chức thể hiện qua người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp: Là nguồn nhân lực mà doanh nghiệp cần và có thể huy động cho việc thực hiện hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của mình. Tùy theo quy mô đặc điểm, ngành nghề mà mỗi doanh nghiệp có cơ cấu, số lượng, chất lượng, trình độ khác nhau. Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao năng suất lao động của mỗi doanh nghiệp.
Muốn đổi mới trong doanh nghiệp trước hết phải có con người có khả năng đổi mới. NNL là một nguồn lực sống, là yếu tố của sự quản lý kinh tế xã hội, nó được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Vai trò nguồn nhân lực * Nguồn nhân lực là mục tiêu và động lực chính của sự phát triển Nói đến vai trò NNL đối với sự quản lý là nói đến vai trò của con người.
Vai trò của con người đối với sự quản lý thể hiện ở hai mặt: - Thứ nhất, con người với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. ể không ngừng thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng trong điều kiện các nguồn nhân lực đều có hạn, con người ngày càng phải phát huy đầy đủ hơn khả năng về thực lực và trí lực cho việc tạo ra kho tàng vật chất và tinh thần đó. Vì vậy, sự tiêu dùng của con người, sự đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu của con người là động lực quản lý. Quản lý kinh tế là nhằm phục vụ mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc sống con người ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng văn minh.
Con người là một lực lượng tiêu 7 dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội, nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Mặc dù mức độ quản lý của sản xuất quyết định mức độ tiêu dùng, song nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướng quản lý sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường. Trên thị trường nhu cầu tiêu dụng của một loại hàng hóa nào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó và ngược lại. Sự tiêu dùng của con người không chỉ là sự tiêu hao kho tàng vật chất và văn hóa do con người tạo ra mà chính là nguồn gốc của động lực quản lý.
- Thứ hai: Với tư cách là người lao động tạo ra tất cả các sản phẩm đó với sức lực và óng sáng tạo vô tận. Quản lý kinh tế được dựa trên nhiều nguồn lực: Nhân lực, vật lực, tài lực song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Ngày cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện nay cũng không thể tách rời nguồn nhân lực con người bởi: Chính con người tạo ra những máy móc thiết bị hiện đại đó. iều đó thể hiện mức độ hiểu biết và chế ngự tự nhiên của con người.
Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người thì chúng chỉ là vật vô chi vô giác. Chỉ có tác động của con người mới phát động và đưa chúng vào hoạt động. * Nguồn lực là trung tâm của sự phát triển Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự quản lý, thể hiện mức độ cải biến tự nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ con người mà còn tạo ra những điều kiện để hoàn thiện bản thân con người. Lịch sử quản lý chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quá trình đó, mỗi giai đoạn quản lý của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự thiên nhiên, tăng thêm động lực cho sự phát triển.
Như vậy động lực, mục tiêu của sự quản lý và tác động của sự quản lý tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. iều đó lý giải tạo sao con người được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển. Phân loại nguồn nhân lực Tùy theo giác độ nghiên cứu mà người ta phân chia nguồn nhân lực theo các tiêu thức khác nhau: * Căn cứ vào nguồn gốc hình thành: Một là, nguồn nhân lực có sẵn trong dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Theo thống kê của liên hợp quốc nhóm này là dân số hoạt động (Active population).
ộ tuổi lao động là giới hạn về tâm sinh lý mà theo đó con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. Việc quy định giới hạn độ tuổi lao động phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước và trong từng thời kỳ. Ở nước ta quy định giới hạn độ tuổi lao động là từ tròn 15 tuổi đến tròn 55 tuổi (đối với nữ) và 60 tuổi (đối với nam giới). Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số chiếm tỷ lệ cao (thường là 50%).
Trên thế giới căn cứ vào quan hệ tỷ lệ trên, trong và tuổi lao động, người ta chia dân số và nguồn nhân lực ra 3 dạng sau: - Tỷ lệ lao động cao (gần 50% dân số), tỷ lệ trên tuổi lao động thấp (khoảng 10%). ây là dân số trẻ thời gian ở các nước đang quản lý. Dạng này hầu hết khả năng tăng dân số và nguồn nhân lực cao hoặc quá cao. - Tỷ lệ dân số trên tuổi và dưới tuổi lao động vừa phải.
ây là dân số tương đối ổn định. - Tỷ lệ dân số thấp hơn tỷ lệ trên tuổi lao động. ây là dạng dân số già (thoái triển) báo hơn trong tỷ lệ dân số thấp hoặc rất thấp. Hai là, nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế còn gọi là dân số hoạt động kinh tế.
ây là số người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân. Như vậy nguồn nhân lực này không bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng hoạt động kinh tế nhưng thực tế không tham gia hoạt động kinh tế (thất nghiệp, có khả năng làm việc song không muốn làm việc, đang học tập…). Ba là, nguồn nhân lực dự trữ. Nguồn nhân lực này bao gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng vì những lí do khác nhau chưa tham gia hoạt động kinh tế song khi cần có thể huy động được.
Cụ thể là: 9 - Những người làm công việc nội trợ trong gia đình. ây là nguồn nhân lực đáng kể bao gồm đại bộ phận lao động nữ. Họ làm những việc phục vụ gia đình, những công việc thường đa dạng và khá vất vả đặc biệt ở những nước đang phát triển.