Tổng quan nghiên cứu
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chính thức hình thành từ năm 1991 với sự xuất hiện của hai liên doanh sản xuất đầu tiên, giữ vị trí then chốt trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hướng tới mốc năm 2020. Từng có thời kỳ cả nước ghi nhận tới 52 doanh nghiệp đăng ký đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô. Tuy nhiên, qua quá trình sàng lọc thị trường khốc liệt, đến cuối năm 2010 quy mô toàn ngành chỉ còn lại 18 doanh nghiệp hoạt động thực tế. Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô trong nước chưa tương xứng với kỳ vọng, dẫn tới tình trạng phụ thuộc nặng nề vào linh kiện nhập khẩu. Chi phí cấu thành từ linh kiện, phụ tùng và sản phẩm trung gian trong sản xuất máy móc, ô tô chiếm tới 80% đến 85% tổng giá thành sản phẩm, trong khi chi phí nhân công chỉ chiếm khiêm tốn từ 5% đến 10%.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Hồ Đức Linh tập trung làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2017 - 2030. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao quát hệ thống doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng và lắp ráp ô tô trên toàn quốc; phạm vi thời gian tập trung phân tích chuyên sâu chuỗi dữ liệu từ năm 2010 đến năm 2016, đồng thời đề ra tầm nhìn định hướng chính sách đến năm 2030. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm thúc đẩy nâng cao tỷ lệ nội địa hóa xe con từ mức dưới 10% trong giai đoạn khảo sát lên mục tiêu 35% - 40% vào năm 2025 và trên 60% vào năm 2030, hỗ trợ doanh nghiệp tiết giảm từ 15% đến 20% chi phí vận tải quốc tế và bảo hiểm logistics.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng Lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVC) kết hợp cùng Lý thuyết phân công lao động quốc tế và Mô hình mạng lưới liên kết cụm công nghiệp (Industrial Clusters). Chuỗi giá trị ngành ô tô được phân chia thành ba công đoạn chính: thượng nguồn (R&D, thiết kế khuôn mẫu, sản xuất linh kiện cốt lõi chiếm khoảng 40% đến 45% giá trị gia tăng), trung nguồn (gia công, lắp ráp chỉ chiếm 10% đến 15% giá trị), và hạ nguồn (tiếp thị, phân phối, dịch vụ hậu mãi chiếm 30% đến 35% giá trị).
Khái niệm công nghiệp hỗ trợ được luận văn chuẩn hóa theo Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ, xác định đây là các ngành sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm cung cấp cho khâu chế tạo, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Cấu trúc mạng lưới công nghiệp hỗ trợ bao gồm ba phân tầng: Tầng 1 là hệ thống cung ứng ruột (Tier 1) có quan hệ mật thiết và bảo trợ trực tiếp từ hãng sản xuất chính; Tầng 2 là các nhà cung cấp phụ trợ theo hợp đồng chuyên biệt (Tier 2); Tầng 3 là các doanh nghiệp cung ứng vật tư, chi tiết tiêu chuẩn tự do trên thị trường (Tier 3). Dựa trên đặc tính kỹ thuật, ngành được phân chia thành hai nhóm: công nghiệp hỗ trợ cơ bản (sản xuất linh kiện kim khí, chất dẻo dùng chung cho ô tô, xe máy, điện tử) và công nghiệp hỗ trợ đặc thù (khuôn dập chính xác, động cơ, hệ thống truyền lực chuyên biệt).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ dữ liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) và báo cáo thường niên của các doanh nghiệp tiêu biểu như Toyota Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2016.
Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 60 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô (gồm gần 30 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và hơn 30 doanh nghiệp nội địa) cùng 18 doanh nghiệp lắp ráp ô tô quy mô lớn. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm bao quát các đơn vị đầu ngành cơ khí, khuôn đúc và linh kiện nhựa tại ba vùng kinh tế trọng điểm Bắc, Trung, Nam.
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, phân tích chuỗi giá trị và tổng hợp logic. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bóc tách toàn diện tác động của khung khổ thể chế, biểu thuế nhập khẩu và rào cản kỹ thuật đối với năng lực cạnh tranh thực tế của các doanh nghiệp phụ trợ trong bối cảnh các quy định về tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc trước năm 2005 được bãi bỏ hoàn toàn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ô tô tại Việt Nam rất khiêm tốn. Toàn ngành chỉ có khoảng 60 nhà cung ứng linh kiện cấp 1 và cấp 2, trong đó nhóm doanh nghiệp FDI chiếm gần 50% với 30 doanh nghiệp nắm giữ hầu hết các hợp đồng sản xuất linh kiện có giá trị kỹ thuật cao. Các doanh nghiệp nội địa còn lại chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất thân từ các xưởng cơ khí hoặc sản xuất nhựa, chất dẻo đơn giản, chưa đủ năng lực cung cấp cụm chi tiết hoàn chỉnh cho dây chuyền lắp ráp.
Thứ hai, tỷ lệ nội địa hóa thực tế của các dòng xe du lịch dưới 9 chỗ ngồi trong giai đoạn 2010 - 2016 chỉ đạt mức 7% đến 10%, thấp hơn rất nhiều so với chỉ tiêu 40% được đặt ra trong các quy hoạch ngành trước đó. Con số này tạo ra sự chênh lệch rất lớn khi so sánh với tỷ lệ nội địa hóa ô tô của Thái Lan (đạt 70% đến 80%) hay Malaysia (đạt 60% đến 65%). Riêng dòng xe tải nhẹ và xe khách nội địa có sự bứt phá tốt hơn, đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 30% đến 45%.
Thứ ba, chi phí sản xuất linh kiện ô tô trong nước cao hơn từ 10% đến 20% so với linh kiện cùng loại sản xuất tại Thái Lan hay Indonesia. Nguyên nhân chính là do sản lượng tiêu thụ ô tô tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu chỉ dao động khoảng 200.000 đến 300.000 xe mỗi năm, chưa đạt tới ngưỡng quy mô kinh tế tối thiểu (200.000 xe/năm cho một mẫu xe cụ thể) để tối ưu hóa chi phí dập khuôn và sản xuất hàng loạt.
Thứ tư, sự dịch chuyển chính sách thuế tạo sức ép cạnh tranh gay gắt. Từ năm 2005, việc xóa bỏ các quy định ràng buộc tỷ lệ nội địa hóa để tuân thủ quy định của WTO đã khiến các nhà lắp ráp chuyển hướng nhập khẩu linh kiện dạng CKD đồng bộ, làm giảm đáng kể động lực kết nối với các nhà cung ứng nội địa.
Thảo luận kết quả
Thực trạng năng lực sản xuất yếu kém của công nghiệp hỗ trợ bắt nguồn từ ba rào cản căn bản: thiếu hụt nguồn vốn đầu tư chiều sâu (một bộ khuôn dập chất lượng cao đòi hỏi chi phí từ 1 đến 3 triệu USD), trình độ công nghệ luyện kim, gia công cơ khí chính xác còn lạc hậu, và thiếu kinh nghiệm quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO/TS 16949. Khi so sánh với kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản và Thái Lan, có thể thấy rõ vai trò định hình của chính sách nhà nước: Thái Lan đã kiên trì thu hút các nhà đầu tư linh kiện cấp 1 thông qua ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp miễn 100% trong 8 năm đầu và xây dựng cụm công nghiệp tập trung quy mô lớn.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ hình cột thể hiện mức chênh lệch tỷ lệ nội địa hóa ô tô giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN giai đoạn 2010 - 2016, đi kèm bảng thống kê cơ cấu giá trị linh kiện nội địa hóa theo từng nhóm chi tiết (thân vỏ dập kim loại, hệ thống dây điện, ghế ngồi, chi tiết nhựa tiêu chuẩn). Qua đó khẳng định nếu không có bước nhảy vọt về chính sách, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ nhập siêu linh kiện ô tô ước tính vượt mức 3 đến 5 tỷ USD mỗi năm khi thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc trong khối ASEAN về 0%.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách tài chính và tín dụng ưu đãi chuyên biệt. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập gói tín dụng ưu đãi với mức lãi suất thấp hơn từ 2% đến 3%/năm so với lãi suất thương mại thông thường, hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đầu tư máy móc chế tạo khuôn mẫu chính xác giai đoạn 2018 - 2025. Đồng thời, cần áp dụng mức thuế nhập khẩu 0% đối với các loại nguyên vật liệu thô chưa sản xuất được trong nước (như thép hợp kim đặc biệt, hạt nhựa kỹ thuật cao).
Thứ hai, quy hoạch và xây dựng các cụm công nghiệp hỗ trợ ô tô tập trung. Ủy ban nhân dân các địa phương trọng điểm công nghiệp (như Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Nam) cần quy hoạch quỹ đất sạch từ 100 đến 300 hecta dành riêng cho các nhà cung ứng linh kiện ô tô, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ logistics để giảm thiểu tối thiểu 15% chi phí luân chuyển bán thành phẩm giữa các nhà máy vệ tinh trước năm 2025.
Thứ ba, nâng cao năng lực công nghệ và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cao. Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập Trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp ô tô nhằm hỗ trợ kiểm định, đo lường và chuyển giao công nghệ nhiệt luyện, xử lý bề mặt. Mục tiêu đào tạo bổ sung ít nhất 15.000 kỹ sư cơ khí chính xác và kỹ thuật viên vận hành máy CNC đạt chuẩn quốc tế giai đoạn 2018 - 2030, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành lên mức 75%.
Thứ tư, thúc đẩy liên kết giữa các hãng lắp ráp lớn và doanh nghiệp nội địa. Các doanh nghiệp đầu chuỗi như Toyota, Thaco, Hyundai Thành Công giữ vai trò hạt nhân, cam kết lộ trình chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ chuẩn hóa chất lượng cho ít nhất 50 doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tham gia vào chuỗi Tier 2, Tier 3 trước năm 2030, hướng đến mục tiêu chung đạt tỷ lệ nội địa hóa trên 40% đối với xe con và trên 60% đối với xe tải, xe khách.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng và bài học kinh nghiệm quốc tế phục vụ việc rà soát, điều chỉnh các nghị định phát triển công nghiệp hỗ trợ, hoàn thiện chính sách thuế và chiến lược công nghiệp ô tô Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030.
Thứ hai, ban lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất cơ khí, linh kiện nhựa và phụ tùng trong nước. Nghiên cứu chỉ rõ các tiêu chuẩn kỹ thuật, phương thức liên kết chuỗi giá trị và các bước nâng cấp năng lực quản trị để doanh nghiệp chuyển đổi thành công từ gia công đơn lẻ sang nhà cung ứng cấp 2 cho các tập đoàn đa quốc gia.
Thứ ba, các tập đoàn sản xuất, lắp ráp ô tô FDI và liên doanh trong nước. Nghiên cứu giúp các hãng lắp ráp đánh giá đúng thực trạng hệ thống cung ứng nội địa, từ đó xây dựng kế hoạch bản địa hóa chuỗi cung ứng, giảm bớt sự phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu và tối ưu hóa chi phí sản xuất trong điều kiện hội nhập.
Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế công nghiệp và Quản trị chuỗi cung ứng. Công trình này là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp phân tích liên ngành, mô hình chuỗi giá trị và khung dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc giảng dạy, học tập và mở rộng các đề tài nghiên cứu tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp
Ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam gặp trở ngại lớn nhất nào trong việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa? Trở ngại lớn nhất là dung lượng thị trường tiêu thụ nội địa còn nhỏ, sản lượng lắp ráp chưa đạt mức 200.000 xe mỗi năm cho một dòng xe để khấu hao chi phí khuôn mẫu. Ngoài ra, việc thiếu hụt nguồn vốn lớn và công nghệ cơ khí chính xác khiến giá thành sản xuất linh kiện trong nước cao hơn nhập khẩu từ 10% đến 20%.
Tại sao quy định bãi bỏ tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc vào năm 2005 lại tạo ra bước ngoặt lớn cho ngành? Trước năm 2005, việc quản lý lắp ráp theo tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc (bộ linh kiện SKD, CKD) tạo sự bảo hộ hành chính nhưng không kích thích nâng cao chất lượng. Khi bãi bỏ để gia nhập WTO, các doanh nghiệp phải đối mặt với quy luật thị trường, buộc ngành công nghiệp hỗ trợ phải hình thành dựa trên năng lực cạnh tranh thực tế về giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nên lựa chọn phân khúc sản phẩm nào để tham gia chuỗi cung ứng ô tô? Các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên tập trung vào nhóm linh kiện công nghiệp hỗ trợ cơ bản như chi tiết nhựa nội thất, gioăng cao su, dây điện, đệm ghế hoặc các chi tiết dập kim loại tấm tiêu chuẩn. Đây là những sản phẩm có suất đầu tư vừa phải, dễ đạt tiêu chuẩn chất lượng của Tier 2 trước khi nâng cấp lên các cụm linh kiện phức tạp.
Hiệp định ATIGA với mức thuế nhập khẩu ô tô 0% từ năm 2018 tác động như thế nào đến công nghiệp hỗ trợ? Thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ các nước ASEAN về 0% tạo áp lực sống còn đối với các nhà máy lắp ráp trong nước. Nếu công nghiệp hỗ trợ không phát triển để hạ giá thành linh kiện, các hãng ô tô sẽ chuyển sang nhập khẩu xe nguyên chiếc từ Thái Lan và Indonesia, dẫn tới nguy cơ thu hẹp sản xuất lắp ráp nội địa.
Chính sách nào mang tính quyết định để thu hút các nhà đầu tư phụ tùng cấp 1 đến Việt Nam? Chính sách quan trọng nhất là tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, áp dụng gói ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cạnh tranh (miễn thuế trong 4 năm đầu, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo) và đầu tư hạ tầng đồng bộ tại các khu công nghiệp chuyên ngành để kết nối thuận tiện với hệ thống cảng biển quốc tế.
Kết luận
- Khẳng định phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô là nền tảng cốt lõi để nâng cao giá trị gia tăng nội địa và thực hiện thắng lợi chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Hệ thống hóa toàn diện bức tranh ngành với khoảng 60 nhà cung ứng, trong đó tỷ lệ nội địa hóa xe du lịch dưới 9 chỗ giai đoạn 2010 - 2016 còn ở mức rất khiêm tốn từ 7% đến 10%.
- Nhận diện chính xác ba nút thắt chủ yếu cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp nội địa gồm thiếu vốn đầu tư công nghệ khuôn mẫu, quy mô thị trường nhỏ và cơ chế liên kết chuỗi cung ứng còn lỏng lẻo.
- Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn với lộ trình chính sách tài chính, ưu đãi thuế, quy hoạch cụm công nghiệp tập trung 100 - 300 hecta và đào tạo 15.000 kỹ sư chất lượng cao đến năm 2030.
- Đóng góp nguồn tư liệu học thuật chuẩn mực, giàu tính thực tiễn cho công tác quản lý nhà nước và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã gắn kết chặt chẽ giữa lý luận chuỗi giá trị toàn cầu với thực trạng vận hành của ngành ô tô Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi chính sách quan trọng. Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2018 - 2025 cần khẩn trương hoàn thiện các sắc thuế ưu đãi và quy hoạch hạ tầng cụm công nghiệp, tiến tới giai đoạn 2025 - 2030 làm chủ công nghệ sản xuất cụm linh kiện giá trị cao. Các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp, hiện thực hóa các giải pháp chính sách nhằm đón đầu cơ hội tái định hình chuỗi cung ứng ô tô trong khu vực và toàn cầu.