Đặt vấn đề bên trong và bên ngoài HTTC. Từ cuối năm Từ đầu thập niên 1990 đến nay, nhiều nước 2011 đến nay, Việt Nam đã có những nỗ lực ban đầu nhằm tái cơ cấu HTTC như sáp nhập, trên thế giới đã trải qua nhiều bắt ổn tài chính và nhiều cuộc khủng hoảng tài chính khác mua lại và hợp nhat (M&A), tang thanh khoan và xử lý nợ xâu những ngân hàng thương mại nhau, với phạm vi, mức độ tác động và tần (NHTM) yếu kém; nâng cao năng lực tài suất ngày càng tăng. Một nguyên nhân chủ yếu chính, giảm nhẹ rủi ro hoạt động những công dẫn đến các bat ôn và khủng hoảng tài chính — ty chứng khoán kém năng lực. Các nỗ lực này tiền tệ xuất phát từ chính sự giám sát tài chính là đáng ghi nhận, tuy vậy, chúng sẽ khó có còn yếu kém, đặc biệt là việc các chuẩn mực, hiệu quả trong việc phát hiện và ngăn chặn các thông lệ tốt về giám sát, trong đó có giám sát rủi ro hệ thông, nhất là xây dựng được một chất lượng tín dụng ngân hàng đã bị coi nhẹ.
HTTC hiệu quả, vận hành an toàn nêu Việt Trong thời gian tới, hệ thống tài chính Nam không có cách tiếp cận tái cơ cấu bài bản (HTTC) Việt Nam, với xuất phát điểm thấp và hơn, có hệ thông hơn và hữu hiệu hơn. những rủi ro đặc trưng có hữu của mình, cũng Bài viết bao gồm 3 phan. Do dung lượng cân được tái cơ câu theo hướng giúp phân bổ bài viết có hạn, Phần đầu bài viết phân tích các nguôn lực trong nền kinh tế có hiệu quả một cách ngắn gọn thành tựu phát triển hệ hơn, giảm nhẹ các rủi ro hệ thống, đặc biệt thống giám sát thị trường tài chính (TTTC) tăng khả năng chống đỡ các cú sốc tài chính từ Việt Nam trong hai thap nién qua. Phan ké tiép điểm qua một số bất cập, yêu kém và rủi TO "Lê Xuân Sang, Tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên cứu Quản trong giam sat TTTC, Phan cuối cùng đề xuất lý Kinh tế Trung ương.
một số giải pháp chủ yếu nhằm tái cơ cấu hệ KH quản Lí KINH TE Số 56 (9+10/2013) TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG GIÁM SÁT. NGHIÊN CỨU TRA0 Đổi mu thống giám sát TTTC Việt Nam trong thời Trong nghiên cứu này, các nội dung giám gian tới. sát và cơ sở để đánh giá hệ thống giám sát thị trường tài chính chủ yếu dựa trên những điểm 2. Cơ sở lý luận cơ bản và khung khỗ yếu kém, dễ bị tổn thương của hệ thống tài phân tích chính- những tác nhân (“tội đôđồ”) trực tiếp và Giám sát tài chính được hiểu là việc giám gián tiếp gây bất ôn và khủng hoảng tài chính - sát của chính phủ đối với hoạt động của các cụ thể là: (1) Các rủi ro cỗ hữu của hệ thống định chế tài chính.
Mục tiêu giám sát tài chính tài chính; (2) Một số rủi ro hoạt động thường là phát hiện, ngăn ngừa và xử lý việc vi phạm gặp trong hoạt động của các định chế tài các quy định hiện hành đối với khu vực tài chính; và (3) Các nhân tố rủi ro xuất phát từ chính và cuối cùng là duy trì ổn định trên bản chất mô hình giám sát tài chính cũng như TTTC.! Cac TTTC trong nghiên cứu này được từ hoạt động của tập đoàn tài chính. hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm thị trường Cách tiếp cận tái cơ cấu hệ thống giám sát tiền tệ, thị trường tín dụng ngân hàng, thị thị trường tài chính được thực hiện theo hướng trường chứng khóan (thị trường cô phiếu và thị tái cơ cầu mô hình giám sát toàn thị trường tải trường trái phiếu (chính phủ, công ty)). chính, theo phương thức giám sát và theo công Hệ thống giám sát TTTC bao gồm các cấu cụ giám sát (giám sát từ xa, tại chỗ, tuân thủ thành là hệ thống các cơ quan giám sát, các và dựa trên rủi ro,. quy chế giám sát tài chính và các công cụ giám 3.
Đánh giá thành tựu chính trong đỗi sát. Trên thế giới, có 3 mô hình cơ bản hệ mới hệ thống giám sát thị trường tài chính thống giám sát thị trường tài chính; bao gồm: Việt Nam trong thời gian qua (1) mô hình giám sát theo định chế hay giám sát chuyên ngành (thành lập các cơ quan riêng 3.1 Thành tựu phát triển TTTC biệt để điều chỉnh các nhóm định chế tài chính Trong quá trình cải cách định hướng thị theo ngành dọc, được chuyên môn hóa (ngân hàng trung ương giám sát các ngân hàng trường và hội nhập kinh tế quốc tế, HTTC Việt thương mại, cơ quan chứng khoán giám sát các Nam đã và đang từng bước phát triển. Các bộ công ty chứng khoán,.); (2) mô hình giám sát phận cầu thành cơ bản của TTTC đã được hình theo chức năng (theo dạng khuyết tật của thị thành, từng bước phát triển. Hầu hết các loại trường như hành vi phản cạnh tranh, chuẩn mực hình định chế tài chính như công ty tài chính, đạo đức kinh doanh, thông tin bất đối xứng và công ty bảo hiểm nhân thọ, quỹ đầu tư.
được rủi ro hỆ thống); và (3) mô hình giám sát hợp thành lập, trong đó, một số hoạt động tương nhất (chỉ bao gồm một cơ quan giám sát duy đối năng động và có hiệu quả. HTTC và TTTC nhất toàn bộ các định chế trung gian và toàn đã bước đầu tạo tiền đề cho việc thực hiện tốt bộ thị trường thuộc các lĩnh vực ngân hàng, vai trò, chức năng của mình. chứng khoán và bảo hiểm. Đây là mô hình Nhin chung, HTTC dần được vận hành được coi là có nhiều ưu điểm, là mô hình lý trong khung khô pháp lý đang ngày càng hoàn tưởng được nhiều nước hướng tới.
Lưu ý là, thiện, mang tính thị trường hơn, bước đầu kết mỗi mô hình có ưu điểm và hạn chế, rủi ro hợp được kinh nghiệm quốc tế với tình hình cụ riêng, do vậy, cần hiểu rõ , nhất là các rủi ro để thể ở Việt Nam. Các nguyên tắc quản lý tài có các cơ chế/công cụ giám sát phù hợp, hữu hiệu. chính tiên tiến và chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát,. đã và đang được thể chế hoá và ứng dụng trong thực tế.
Các chính sách quản lý, phát triển ! Từ điển dau tu (URL: http://www.com/ definition/financial-supervision). TTTC cũng từng bước được hoàn thiện. $6 56 (9+10/2013) QUAN LÝ KINH TẾ EE) RCL NGHIEN ciU TRAO BOI TAI CO CAU HE THONG GIAM SAT. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản Viéc ban hanh Luật Ngân hàng nhà nước lý HTTC và TTTC (như NHNN, Bộ Tài chính, (NHNN), Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) trong đó có Ủy ban Chứng khoán Nhà nước - (kể cả sửa đổi), Luật Thanh tra thay thế dần UBCKNN) đã từng bước được thể chế hoá.
Sự các văn bản dưới luật đã góp phần nâng cao phối hợp giữa các cơ quan quản lý hệ thống tài hiệu quả và hiệu lực công tác giám sát ngân chính và TTTC cũng như với các bộ ngành hàng, tạo điều kiện cho việc hình thành và kiện liên quan trong xử lý các vấn đề tác nghiệp toàn mô hình tô chức và hoạt động thanh tra phát sinh cũng đã chặt chẽ hơn. Cùng với đó, ngân hàng cho phù hợp với thực tiễn; định rõ hệ thống giám sát cũng từng bước hình thành nhiệm vụ, quyên hạn, quy trình, thủ tục và các và phát triển, hiện đang hoạt động theo mô chế tài về thanh tra ngân hàng. hình giám sát theo định chế (hay theo chuyên ngành). Hai là, nội dụng giám sát từng bước được đổi mới để theo kip với sự phát triển của hoạt Lưu ý là, theo World Development Report động ngân hàng và các yêu cầu của thông lệ (2011), xét theo từng chỉ số tài chính, trình độ quốc tế.
Cùng với sự phát triển của thị trường, phát triển về lượng của hệ thống ngân hàng hoạt động thanh tra giám sát của NHNN không Việt Nam đã đạt gân mức trung bình (đứng thứ chỉ kiểm tra tính tuân thủ của các ngân hàng, 29/60 TTTC được xếp hạng), kể cả các chỉ số mà bước đầu đã xây dựng được hệ thống các dịch vụ ngân hàng; trong khi đó, xếp, hạng về chỉ tiêu giám sát ngân hàng mang tính cảnh thị trường chứng khoán tương đối thấp (đứng báo rủi ro cho hoạt động của từng ngân hàng thứ 49/60 TTTC được xếp hạng). Khu vực tín cũng như hệ thống ngân hàng. Chẳng hạn, đối dụng ngân hàng tương đối phát triển về lượng, chiếu việc thực hiện các nguyên tắc giám sát nhất là về hiệu quả hoạt động và độ sâu tài của của Basel trong hoạt động giảm sát của hệ thống các ngân hàng thương mai? NHNN, tính đến năm 2010, Việt Nam đáp ứng 3.2 Thành tựu đỗi mới hệ thống giám sát được 6 trong tông số 25 nguyên tắc _glám sát TTTC của Basel (bao gồm: Chuyển đôi quyền sở hữu lớn; Các sáp nhập cơ bản; An toàn vốn; Giới Đối với hệ thống giám sát TDNH, nhìn hạn tín dụng với khách hàng lớn; Rủi ro thanh chung, công tác và hiệu quả giám sát, thanh tra hệ thống tín dụng ngân hàng dần được đổi khoản; Kiểm toán và kiểm soát nội bộ). Các mới, hoàn thiện theo các hướng sau: nội dung giám sát đã không chỉ tập trung vào các tiêu chí' ‘truyén thống” như vốn tự có, giới Một là, khung pháp lý về giám sát, thanh tra hạn tín dụng, chất lượng tín dụng mà đã được ngân hàng ngày càng được hoàn thiện theo mở rộng cho các yếu tô định tính như theo đối hướng nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý, diễn biến cơ cấu tài sản nợ, tài sản có, xem xét tăng cường cạnh tranh, bảo đảm các nguyên các mối quan hệ giữa vốn và sử dụng vốn; việc tắc thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế.
đảm bảo khả năng chỉ trả hay đánh giá tính thanh khoản của ngân hàng. Các tỷ lệ bảo đảm * Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giám sát các an toàn trong hoạt động ngân hàng cũng đã hoạt động ngân hàng- tiền tệ), Bộ Tài chính giám sát thị được tính toán dựa trên thông lệ quốc tế, đảm trường bảo hiểm (Vụ Bảo hiểm)), thị trường chứng bảo tính thống nhất trong quản lý vĩ mô, phân khoán (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), các hoạt động của các cơ quan/doanh nghiệp thuộc Bộ (Thanh tra Bộ loại ngân hàng, đánh giá so sánh nhóm ngân Tài chính ); bên cạnh đó, Ủy ban Giám sát Tài chính hàng cùng loại và toàn hệ thống ngân hàng. quốc gia có chức năng tư vân, giúp Chính phủ trong Các quy định xếp loại NHTM cổ phần mới điều hành giám sát hệ thống tài chính.