Tổng quan luận án

Luận án phó tiến sĩ khoa học luật học của tác giả Chu Hồng Thanh với đề tài "Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay" được bảo vệ năm 1993 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ Hoàng Văn Hảo. Công trình thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và pháp quyền (Mã số: 3.01.5769), được lưu trữ tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công trình được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) và Đại hội lần thứ VII (1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VII khẳng định sự cần thiết phải phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Điều này được thể chế hóa tại Điều 15 và Điều 16 của Hiến pháp năm 1992: Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật.

Thực tiễn thời kỳ trước đổi mới cho thấy cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã xây dựng một bộ máy nhà nước cồng kềnh, kém hiệu lực, hành chính hóa các quan hệ kinh tế, can thiệp trực tiếp và bao biện công việc kinh doanh của doanh nghiệp nhưng lại không gắn liền với trách nhiệm pháp lý và vật chất. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước và pháp luật không hề giảm đi mà thay đổi về phương thức tác động. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: phần lớn các công trình đương thời chỉ tập trung phân tích dưới góc độ kinh tế học thuần túy hoặc bàn về các hình thức kinh tế, thiếu những nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ khoa học pháp lý về việc Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định mục đích nghiên cứu tổng quát là làm rõ vai trò của Nhà nước và pháp luật trong cơ chế thị trường, phân tích quá trình vận hành cơ chế này tại Việt Nam, từ đó xác lập các yêu cầu khách quan đối với hệ thống pháp luật và đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới quản lý kinh tế bằng pháp luật. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được phân định thành các nội dung sau:

  1. Làm rõ vai trò, bản chất và chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và pháp luật trong nền kinh tế thị trường từ góc độ lý luận kinh điển và thực tiễn đương đại.
  2. Phân tích thực trạng quá trình xuất hiện, vận hành của cơ chế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn đầu đổi mới, chỉ ra những mâu thuẫn, tồn tại của hệ thống pháp luật và bộ máy quản lý kinh tế cũ.
  3. Rút ra các yêu cầu kinh tế khách quan đối với việc xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và xác định nội dung tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực kinh tế.
  4. Đề xuất các quan điểm, phương hướng lớn và hệ thống giải pháp cụ thể nhằm đổi mới hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước bằng pháp luật trong cơ chế thị trường ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước bằng công cụ pháp luật, mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước, pháp luật và cơ chế thị trường; các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền trong việc điều tiết nền kinh tế nhiều thành phần.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào thực tiễn quản lý nhà nước và hệ thống pháp luật tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu có chọn lọc kinh nghiệm quản lý kinh tế của các quốc gia phát triển và các nước đang phát triển trên thế giới.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn bắt đầu công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 1993), lấy mốc Hiến pháp năm 1992 làm nền tảng pháp lý trung tâm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án đã tổng hợp, phân loại và điểm lại các công trình khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến quản lý kinh tế và pháp luật kinh tế:

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về cơ sở hiến định và lý luận pháp lý mới: Tác giả Đặng Thi Liên với bài viết "Một số quan điểm cơ bản về chế độ kinh tế của Hiến pháp 1992" (Tạp chí Kiểm sát số 7 - 1992); tác giả Trần Ngọc Đường với công trình "Pháp luật trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước" (Tạp chí Nghiên cứu Lý luận số 4 - 1992); tác giả Đào Trí Úc với nghiên cứu "Hệ thống tư pháp - Khái niệm, thực trạng và đổi mới" (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4 - 1992).
  • Nghiên cứu về phân định chức năng và tổ chức bộ máy: Tác giả Hoàng Văn Hảo với công trình "Một vài khía cạnh phương pháp luận trong việc phân định và kết hợp chức năng quản lý kinh tế và chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh" (Tạp chí Luật học số 4 - 1988); các bài viết trên Tạp chí Cộng sản (số 4 - 1993) như "Từng bước nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước", "Quan điểm và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN", "Pháp luật và phát triển kinh tế".
  • Nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh và vi phạm pháp luật: Tác giả Dương Đăng Huệ với nghiên cứu "Một số nguyên nhân chủ yếu của tình trạng vi phạm pháp luật" (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 - 1992); tác giả Đỗ Minh Tuân / Đỗ Minh Hoàn với bài viết "Pháp luật và quyền tự do kinh doanh" (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 - 1992).
  • Nghiên cứu về chuyển đổi cơ chế kinh tế: Tác giả Trần Ngọc Hiên với "Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường và những vấn đề đặt ra ở nước ta"; nhóm tác giả Nguyễn Văn Kỷ và Nguyễn Hữu Tuệ với "Sự chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường"; tác giả Nguyễn Văn Thảo với "Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay"; tác giả Hồ Văn Vĩnh trong tập thông tin tư liệu của Học viện Nguyễn Ái Quốc (1992) với "Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước".
  • Các công trình nghiên cứu cấp viện, trường đại học: Công trình "Đổi mới kinh tế ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp quản lý vĩ mô" của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (1992); giáo trình "Kinh tế vĩ mô - Những hạn chế của kinh tế vĩ mô và sự can thiệp của Chính phủ" do Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp ấn hành (1992).

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Nghiên cứu của Viện Kinh tế thế giới thuộc Viện Khoa học Xã hội (1991) về "Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển".
  • Bài giảng của Giáo sư James Riedel (Trường Đại học Tổng hợp Johns Hopkins, Hoa Kỳ) trình bày tại Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Việt Nam vào tháng 8 năm 1992 về việc sử dụng hệ thống pháp luật để xử lý các yếu tố ngoại lai trong quản lý kinh tế.
  • Quan điểm của Giáo sư, Tiến sĩ Friedrich Kübler (Cộng hòa Liên bang Đức) về nguyên tắc pháp luật chỉ quy định điều kiện tham gia thị trường của chủ thể chứ không đặt ra các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả nhận xét rằng phần lớn các tài liệu đã công bố tập trung khai thác các khía cạnh kinh tế vĩ mô, các hình thức kinh tế hoặc lý giải bước đầu về sự chuyển đổi từ kế hoạch hóa sang thị trường. Tuy nhiên, vẫn thiếu một công trình nghiên cứu hệ thống từ giác độ khoa học pháp lý nhằm luận giải sâu sắc:

  1. Cơ sở lý luận của việc Nhà nước sử dụng pháp luật để điều tiết kinh tế trong bối cảnh chuyển dịch sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Bản chất và 5 yêu cầu cốt lõi của tư tưởng Nhà nước pháp quyền áp dụng cụ thể vào lĩnh vực kinh tế tại Việt Nam.
  3. Phương hướng và giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật kinh tế với việc cải cách bộ máy quản lý nhà nước và thành lập cơ quan tài phán chuyên biệt (Tòa án kinh tế).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng hệ thống các lý thuyết kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với các lý thuyết kinh tế và pháp lý hiện đại trên thế giới:

  • Học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật:

    • Vận dụng tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" của Ph. Ăng-ghen để xác định hai đặc trưng chủ yếu của Nhà nước: quản lý đời sống dân cư theo lãnh thổ và thiết lập quyền lực công cộng được duy trì bằng pháp luật.
    • Luận điểm của C. Mác trong "Tư bản" và "Góp phần phê phán kinh tế chính trị học" về tính quy định của cơ sở hạ tầng kinh tế đối với kiến trúc thượng tầng pháp lý: mọi hình thức sản xuất đều sản sinh ra những quan hệ pháp lý và hình thức quản lý riêng của nó.
    • Các quan điểm của V.I. Lênin trong "Kinh tế chính trị trong thời kỳ chuyên chính vô sản", "Sáng kiến vĩ đại", "Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết" và "Bút ký triết học": nhấn mạnh quản lý kinh tế là nhiệm vụ chính trị hàng đầu sau khi giành chính quyền; năng suất lao động là thước đo quyết định; ý chí nhà nước phải được thể hiện thành luật pháp; quản lý kinh tế phải tôn trọng quy luật khách quan và tiếp thu các thành tựu tổ chức quản lý của chủ nghĩa tư bản.
  • Các lý thuyết kinh tế học vĩ mô:

    • Lý thuyết về "bàn tay vô hình" của Adam Smith trong "Của cải của các dân tộc" khẳng định vai trò tự điều chỉnh của thị trường tự do cạnh tranh.
    • Lý thuyết can thiệp nhà nước của J.M. Keynes (chủ nghĩa Keynes) thông qua chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, lãi suất và phát hành tiền để kích thích tổng cầu, chống khủng hoảng và thất nghiệp (được áp dụng tại Mỹ từ Đạo luật năm 1946 và các nước Tây Âu).
    • Lý thuyết tiền tệ của Milton Friedman về kiểm soát chặt chẽ khối lượng tiền tệ lưu thông để chống lạm phát.
    • Lý thuyết về "nền kinh tế hỗn hợp" (kết hợp cơ chế thị trường với sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước).
  • Tư tưởng Nhà nước pháp quyền:

    • Khảo cứu tư tưởng của các nhà triết học Khai sáng và cổ điển phương Tây: Voltaire, Montesquieu (nguyên tắc phân chia và kiềm chế quyền lực), Diderot, Immanuel Kant (Nhà nước khế ước và tính tối cao của luật pháp).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phối hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đánh giá các quan điểm lý luận về kinh tế, pháp luật và thực trạng chuyển đổi thể chế tại Việt Nam.
  • Phương pháp so sánh: So sánh cách thức can thiệp kinh tế giữa mô hình kế hoạch hóa tập trung và cơ chế thị trường; so sánh giữa Nhà nước tư bản chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa; so sánh kinh nghiệm quản lý kinh tế của các quốc gia phát triển (Nhật Bản, Mỹ, Tây Âu) và các nước đang phát triển.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Xem xét hệ thống pháp luật kinh tế như một chỉnh thể thống nhất gắn với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và các quy luật vận hành của thị trường.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Đối chiếu các quy phạm pháp luật hiện hành với số liệu thực tiễn kinh tế - xã hội giai đoạn 1986–1993 để rút ra các kết luận khoa học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII; Hiến pháp năm 1992; các văn bản luật, pháp lệnh do Quốc hội và Hội đồng Nhà nước khóa VIII ban hành; các nghị định, quyết định của Hội đồng Bộ trưởng về quản lý xí nghiệp quốc doanh; các báo cáo kinh tế - xã hội trong nước và ấn phẩm nghiên cứu của các tổ chức quốc tế đến năm 1992.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Nhà nước và pháp luật trong cơ chế thị trường

Chương này tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng về chức năng kinh tế của Nhà nước, tính tất yếu của việc quản lý bằng pháp luật, tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong kinh tế và các đòi hỏi của cơ chế thị trường đối với hệ thống pháp luật.

1. Cơ sở lý thuyết của việc Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật

  • Quản lý kinh tế là chức năng cơ bản của Nhà nước: Luận án phân tích sự phát triển của chức năng kinh tế qua các hình thái nhà nước. Ở các nước tư bản phát triển, quản lý kinh tế của nhà nước tư sản hiện đại bao gồm các nội dung chính:

    • Dự báo chiến lược và định hướng phát triển (ví dụ: chiến lược kinh tế của Nhật Bản giúp nâng thu nhập bình quân đầu người từ 500 USD năm 1960 lên mức hàng đầu thế giới; chiến lược thu hút chất xám của Mỹ nhằm giải quyết dự báo thiếu hụt 675.000 nhà khoa học và kỹ sư vào năm 2006, trong đó chuyên gia châu Á chiếm 2/3).
    • Thiết lập trật tự kinh tế thông qua pháp luật, ràng buộc cả người sản xuất, người tiêu dùng và chính các cơ quan nhà nước.
    • Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, giải quyết việc làm, xử lý các vấn đề xã hội, y tế, môi trường.
    • Phân bổ tài nguyên, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và sinh thái.
    • Quản lý ngoại thương, cấp phép, kiểm soát hạn ngạch và điều tiết lưu chuyển vốn quốc tế.
  • Tính tất yếu của việc Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật: Pháp luật là công cụ thể hiện quyền lực nhà nước, biến ý chí của giai cấp thống trị thành các quy chuẩn bắt buộc chung. Quản lý kinh tế bằng pháp luật là phương thức duy nhất bảo đảm cho các quyết sách vĩ mô được thực hiện thống nhất, loại bỏ sự tùy tiện, cảm tính và duy ý chí. Trong nền kinh tế hàng hóa, pháp luật tồn tại như một nhu cầu tự thân của các quan hệ kinh tế khách quan, đóng vai trò là "luật chơi" minh bạch cho các chủ thể sản xuất kinh doanh và cung cấp phương tiện điều khiển "cách chơi" cho nhà quản lý.

  • Năm yêu cầu của Nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực kinh tế:

    1. Quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, bằng các đạo luật: Thay thế triệt để phương thức quản lý bằng chỉ thị, nghị quyết chung chung, thiếu tính quy phạm; xác lập nguyên tắc doanh nghiệp được tự do thực hiện mọi hoạt động sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm.
    2. Bản thân Nhà nước và các cơ quan nhà nước phải tuân thủ pháp luật: Xóa bỏ quan niệm nhà nước đứng trên pháp luật; các cơ quan quản lý phải chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt của các đạo luật đã ban hành trong quá trình thực hiện chức năng kinh tế.
    3. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền tự chủ của các chủ thể: Thừa nhận quyền con người và quyền công dân trong kinh tế; bảo đảm quyền tự quyết định sản xuất, kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lợi nhuận và rủi ro.
    4. Xác lập trách nhiệm pháp lý hai chiều giữa Nhà nước và doanh nghiệp: Chuyển từ quan hệ mệnh lệnh hành chính sang quan hệ đối tác pháp lý bình đẳng, trong đó Nhà nước và các đơn vị kinh tế chịu trách nhiệm pháp lý lẫn nhau đối với các cam kết và thiệt hại phát sinh.
    5. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả: Phân định thẩm quyền quản lý, nâng cao tính khả thi của văn bản quy phạm, tổ chức hệ thống Tòa án kinh tế để tài phán các tranh chấp thương mại và giám sát tính hợp pháp trong các quyết định của cơ quan hành chính.

2. Cơ chế thị trường và những đòi hỏi của nó đối với pháp luật

  • Bản chất và các yếu tố cấu thành cơ chế thị trường: Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ, động lực và quy luật vận hành của nền kinh tế hàng hóa (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh). Kinh tế thị trường vận hành dựa trên 4 yếu tố cốt lõi:

    1. Các hành vi mua bán diễn ra theo giá cả thị trường thực tế.
    2. Các chủ thể kinh tế độc lập, có quyền tự chủ quyết định sản xuất kinh doanh.
    3. Các giao dịch, mua bán được thực hiện hoàn toàn tự do.
    4. Tồn tại cơ chế bảo đảm thông tin thị trường minh bạch và thông suốt.
  • Năm ưu thế và các khuyết tật của cơ chế thị trường:

Nội dung Phân tích chi tiết theo luận án
Ưu thế thứ nhất Là cơ chế sàng lọc khách quan đối với sản phẩm và doanh nghiệp, thúc đẩy nâng cao chất lượng và giá trị sử dụng của hàng hóa.
Ưu thế thứ hai Thúc đẩy cạnh tranh, kích thích áp dụng khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động và giảm chi phí sản xuất cá biệt.
Ưu thế thứ ba Bảo đảm tính độc lập, quyền tự chủ, giải phóng năng lực sản xuất và nâng cao tinh thần trách nhiệm của người kinh doanh.
Ưu thế thứ tư Có tính linh hoạt cao, thích ứng nhanh chóng với các biến động của quan hệ cung - cầu xã hội.
Ưu thế thứ năm Luôn tạo ra sự dồi dào, phong phú về hàng hóa, dịch vụ, khắc phục triệt để tình trạng khan hiếm thời kỳ bao cấp.
Khuyết tật thị trường Tự phát sinh lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế chu kỳ, phân hóa giàu nghèo tiêu cực và hủy hoại môi trường sinh thái.

Sự xuất hiện của các khuyết tật trên đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp để chuyển hóa thành mô hình "nền kinh tế hỗn hợp", dùng pháp luật để thiết lập hành lang pháp lý, điều tiết vĩ mô và định hướng nền kinh tế phát triển ổn định, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.


Chương II: Phương hướng và biện pháp đổi mới quản lý kinh tế bằng pháp luật trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Chương này tập trung đánh giá thực trạng chuyển dịch thể chế tại Việt Nam và đưa ra hệ thống phương hướng, giải pháp đổi mới quản lý kinh tế bằng pháp luật.

1. Đánh giá thực trạng pháp luật và quản lý kinh tế tại Việt Nam

  • Tồn tại của cơ chế cũ: Quản lý hành chính mệnh lệnh, giao nộp hiện vật, chia cắt địa giới; doanh nghiệp quốc doanh không có quyền tự chủ nhưng được bao cấp thua lỗ; hệ thống văn bản pháp lý chủ yếu là thông tư, chỉ thị mang tính áp đặt chủ quan, hiệu lực pháp lý thấp và thiếu đồng bộ.
  • Thành tựu bước đầu từ năm 1986 đến 1992:
    • Xóa bỏ cơ chế hai giá, chuyển sang cơ chế một giá theo thị trường.
    • Ban hành các chính sách tài chính, tiền tệ, điều chỉnh lãi suất linh hoạt giúp kiềm chế lạm phát từ mức phi mã xuống mức ổn định hơn.
    • Giải quyết căn bản vấn đề an ninh lương thực và bắt đầu tạo ra các mặt hàng xuất khẩu có giá trị.
    • Quốc hội khóa VIII đẩy mạnh hoạt động lập pháp, từng bước ban hành các đạo luật điều chỉnh kinh tế nhiều thành phần.

2. Các phương hướng lớn đổi mới quản lý kinh tế bằng pháp luật

  • Thể chế hóa đầy đủ đường lối đổi mới của Đảng và các quy định của Hiến pháp 1992 về phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
  • Chuyển mạnh chức năng của Nhà nước từ can thiệp trực tiếp vào điều hành sản xuất kinh doanh sang quản lý vĩ mô bằng hệ thống pháp luật, chính sách và quy hoạch.
  • Xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế đồng bộ, minh bạch, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế (kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước).

3. Các biện pháp cụ thể

  • Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật kinh tế: Tập trung xây dựng và ban hành các dự án luật trọng điểm (như Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Phá sản, Luật Đất đai sửa đổi, pháp luật về thuế và thương mại).
  • Cải cách bộ máy hành chính nhà nước: Rà soát, tinh giản các cơ quan quản lý trung gian; xóa bỏ cơ chế chủ quản hành chính đối với doanh nghiệp nhà nước; phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế của các bộ, ngành với quyền tự chủ kinh doanh của các đơn vị cơ sở.
  • Thành lập hệ thống cơ quan tài phán kinh tế chuyên trách: Đổi mới cơ chế Trọng tài kinh tế cũ, khẩn trương nghiên cứu thành lập hệ thống Tòa án kinh tế thuộc Tòa án nhân dân để xét xử công minh, kịp thời các tranh chấp hợp đồng kinh tế và giải quyết phá sản doanh nghiệp.
  • Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm vi phạm: Thiết lập cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định hành chính kinh tế; nâng cao kỷ cương thực thi pháp luật; xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, trốn thuế, tham nhũng và gian lận thương mại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án là một trong những công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học tại Việt Nam tiếp cận vấn đề Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật dưới lăng kính của tư tưởng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  2. Hệ thống hóa cơ sở khoa học về sự tương thích giữa cơ chế thị trường và công cụ pháp luật; luận giải tính tất yếu khách quan của pháp luật trong việc vừa giải phóng quyền tự do kinh doanh vừa khắc phục các khuyết tật tự nhiên của thị trường.
  3. Xác lập 5 yêu cầu cốt lõi của Nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là nguyên tắc bình đẳng pháp lý giữa Nhà nước và các chủ thể kinh doanh, cũng như tính tối cao của các đạo luật trong quản lý vĩ mô.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  1. Đưa ra hệ thống luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp của Quốc hội sau khi ban hành Hiến pháp 1992, định hướng xây dựng các đạo luật trụ cột cho nền kinh tế nhiều thành phần.
  2. Đề xuất mô hình phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước về kinh tế (quản lý vĩ mô) và chức năng quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (quản lý vi mô), làm cơ sở cho việc xóa bỏ chế độ bộ chủ quản.
  3. Kiến nghị các giải pháp cụ thể về việc cải cách thể chế giải quyết tranh chấp kinh tế, trọng tâm là đề xuất xây dựng hệ thống Tòa án kinh tế tại Việt Nam đầu thập niên 1990.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được thực hiện vào năm 1993, thời điểm nền kinh tế thị trường tại Việt Nam mới ở giai đoạn sơ khởi và hệ thống pháp luật kinh tế đang trong quá trình chuyển giao từ cơ chế bao cấp sang cơ chế mới. Do đó, một số phân tích về thực trạng pháp luật phản ánh các quy định hiện hành tại thời điểm bảo vệ (như các văn bản quản lý xí nghiệp quốc doanh của Hội đồng Bộ trưởng, cơ chế Trọng tài kinh tế cũ) vốn đã có nhiều thay đổi theo tiến trình cải cách pháp luật sau này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu sâu hơn về quy trình tố tụng kinh tế và thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án kinh tế sau khi được thành lập; khảo cứu quá trình hoàn thiện các đạo luật chuyên ngành về thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản và các quy định pháp lý về hội nhập kinh tế quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn và tư liệu học thuật đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các môn học Lý luận Nhà nước và pháp quyền, Luật Kinh tế, Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Kinh tế chính trị học.
  • Cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử - pháp lý có giá trị về quá trình thể chế hóa Hiến pháp 1992 và bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng khung khổ pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Cán bộ quản lý nhà nước và tư pháp: Tham khảo các luận điểm về phân định thẩm quyền hành chính - kinh tế và nguyên tắc vận hành của Nhà nước pháp quyền trong việc xử lý các tranh chấp và ngoại lai kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định 5 yêu cầu của Nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực kinh tế gồm những nội dung nào?

Luận án chỉ rõ 5 yêu cầu: (1) Quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, bằng các đạo luật; (2) Bản thân Nhà nước và cơ quan nhà nước phải hoạt động trên cơ sở và tuân thủ pháp luật; (3) Bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền tự chủ của các chủ thể kinh tế; (4) Xác lập trách nhiệm pháp lý hai chiều bình đẳng giữa Nhà nước và doanh nghiệp; (5) Xây dựng cơ chế kiểm tra có kết quả, thành lập Tòa án kinh tế và giám sát chặt chẽ các quyết định hành chính.

2. Theo luận án, cơ chế thị trường bao gồm những yếu tố cấu thành nào?

Cơ chế thị trường gồm 4 yếu tố chính: (1) Các hành vi mua bán diễn ra theo giá cả thị trường thực tế; (2) Các chủ thể kinh tế có vị thế độc lập và có quyền tự chủ quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh; (3) Hành vi mua bán, giao dịch được tiến hành hoàn toàn tự do; (4) Có cơ chế bảo đảm cung cấp thông tin thị trường minh bạch.

3. Tác giả đã dẫn chứng các lý thuyết kinh tế quốc tế nào để làm rõ sự cần thiết của việc Nhà nước can thiệp vào kinh tế?

Tác giả dẫn chứng lý thuyết "bàn tay vô hình" của Adam Smith; lý thuyết can thiệp vĩ mô bằng chính sách tài khóa, tiền tệ, lãi suất của J.M. Keynes (áp dụng tại Mỹ theo Đạo luật 1946 và Tây Âu); lý thuyết kiểm soát cung tiền chống lạm phát của Milton Friedman; mô hình kinh tế hỗn hợp; bài giảng của GS. James Riedel (Đại học Johns Hopkins) về xử lý yếu tố ngoại lai bằng pháp luật; và quan điểm của GS. Friedrich Kübler (CHLB Đức) về điều kiện chủ thể tham gia kinh doanh.

4. Luận án đã chỉ ra những tồn tại lớn nhất của cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp là gì?

Tồn tại lớn nhất là: cơ chế kế hoạch hóa mệnh lệnh làm triệt tiêu động lực phát triển; chế độ trách nhiệm không rõ ràng; cơ quan nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động doanh nghiệp nhưng không chịu trách nhiệm vật chất và pháp lý; phân phối bình quân, hiện vật hóa; bộ máy quản lý cồng kềnh, chi phí lớn; và hệ thống pháp luật mang tính chủ quan, áp đặt, kém hiệu lực.


Kết luận

Luận án của tác giả Chu Hồng Thanh là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu có hệ thống về vấn đề Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật trong cơ chế thị trường ở giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Nhà nước pháp quyền và các lý thuyết kinh tế vĩ mô đương đại, luận án đã làm rõ tính tất yếu khách quan của việc điều tiết kinh tế bằng pháp luật và xác lập các yêu cầu pháp quyền trong quản lý vĩ mô. Các luận điểm, phương hướng và kiến nghị lập pháp do tác giả đề xuất đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Hiến pháp năm 1992.