CHƯƠNG 1 mục lấy hàng, các hàng hóa đóng chung một thùng sẽ được xếp chung theo các mục lấy hàng để thuận tiện lấy hàng và đóng thùng. Để lấy hàng thuận tiện, danh mục lấy hàng bao gồm các mục lấy hàng, hướng dẫn người lấy hàng loại hàng phải lấy, số lượng, đơn vị, nơi lấy hàng. Mỗi mục lấy hàng thường tham chiếu đến một vị trí lưu hàng trong kho. Vì thời gian di chuyển chiếm phần lớn thời gian lấy hàng, nên số mục lấy hàng trong danh mục lấy hàng xác định yêu cầu nhân lực cho việc lấy hàng.
Mỗi mục lấy hàng thường bao gồm nhiều hàng phải lấy, và thường chi phối bởi việc đóng thùng. Hệ thống sắp xếp đơn hàng thành danh sách các mục lấy hàng giúp việc lấy hàng thuận lợi. Mỗi người lấy hàng có thể tập trung vào một khu vực lấy hàng, giúp giảm chi phí di chuyển. Hệ thống cũng sắp xếp trình tự các mục lấy hàng giúp người lấy hàng di chuyển giữa khu vực lưu trữ theo các mục lấy hàng một cách hợp lý nhằm cực tiểu quãng đường di chuyển trong kho của người lấy hàng.
Danh mục lấy hàng có thể đơn giản viết ra trên giấy, cũng có thể là chuỗi các yêu cầu lấy hàng thông báo cho người lấy hàng bằng các thẻ hay các tín hiệu ánh sáng, âm thanh. Lấy hàng theo thùng thường có yêu cầu nhân lực ít hơn lấy hàng đơn lẻ. Lấy hàng đơn lẻ theo từng loại hàng thường có yêu cầu nhân lực cao vì cần nâng chuyển nhiều, mỗi loại hàng lại có kích thước, trọng lượng, yêu cầu nâng chuyển khác nhau. Lấy hàng theo thùng thường có yêu cầu nhân lực thấp vì ít nâng chuyển và có thể tự động hóa do có thể chuẩn hóa kích thước thùng chứa.
Mật độ lấy hàng Mặt lấy hàng là phần diện tích phô bày ở mặt trước của phương tiện lưu trữ mà hàng sẽ được hàng. Mặt lấy hàng càng phô bày nhiều loại hàng thì người lấy hàng càng ít di chuyển cho mỗi mục lấy hàng. Mật độ hàng là số lượng loại hàng có thể lấy trên mỗi đơn vị diện tích mặt lấy hàng. Mật độ lấy hàng là số lượng mục lấy hàng có thể lấy trên mỗi đơn vị diện tích mặt lấy hàng.
Nhà kho có mật độ hàng cao thường có mật độ lấy hàng cao, từ đó dẫn đến việc giảm di chuyển khi cho mỗi mục hàng cần lấy, kéo theogiảm thời gian và chi phí lấy hàng. Mật độ hàng và mật độ lấy hàng cũng có thể được xác định theo chiều dài di chuyển theo hành lang lấy hàng thay vì diện tích mặt lấy hàng. Khi ấy, mật độ hàng là số lượng loại hàng có thể lấy trên mỗi đơn vị chiều dài hành lang di chuyển, và mật độ lấy hàng là số lượng mục lấy hàng có thể lấy trên mỗi đơn vị HOẠT ĐỘNG KHO VẬN 23 chiều dài hành lang di chuyển khi lấy hàng. Một đơn hàng tuy lớn nhưng có mật độ lấy hàng cao sẽ có thời gian di chuyển thấp; thời gian lấy đơn, chủ yếu phụ thuộc vào thời gian tìm kiếm lấy hàng, sẽ nhỏ.
Ngược lại, một đơn hàng tuy nhỏ, nhưng có mật độ lấy hàng thấp sẽ có thời gian di chuyển cao, thời gian lấy đơn sẽ lớn. Mật độ lấy hàng phụ thuộc vào đơn hàng, không thể biết trước khi nhận đơn. Tuy nhiên có thể gia tăng mật độ lấy hàng bằng cách gia tăng mật độ hàng trên mặt lấy hàng. Cũng có thể cải thiện mật độ lấy hàng bằng cách bố trí hàng hóa lưu trữ.
Các loại hàng hóa có tần suất hay mức độ thường xuyên lấy hàng cao được lưu trữ tập trung theo khu vực. Người lấy hàng có thể lấy được nhiều mục lấy hàng trong một khu vực mà không cần di chuyển nhiều.2 Lấy nhóm đơn Mật độ lấy hàng cũng có thể được cải thiện bằng cách lấy nhóm đơn, mỗi người lấy hàng sẽ lấy một nhóm đơn hàng bao gồm nhiều đơn hàng. Để lấy nhóm đơn, cần phân loại hàng hóa theo đơn khi lấy hàng. Người lấy hàng phải mang theo thùng chứa cho mỗi đơn hàng, vửa lấy hàng vừa phân loại hàng theo đơn, nên mất nhiều thời gian lấy hàng và có thể nhầm lẫn.
Để giảm thời gian và tránh nhầm lẫn, có thể phân loại hàng hóa theo đơn sau khi lấy hàng. Trong trường hợp này, phát sinh yêu cầu về nhân lực và không gian để thực hiện việc phân loại sau khi lấy hàng. Lấy nhóm đơn thường dùng khi đơn hàng chỉ có một mục hàng theo đơn, không cần phân loại. Hàng được lấy luôn cho thùng chứa vận chuyển đến cho khách hàng.
Một đơn hàng lớn với loại hàng nhỏ, có thể lấy chỉ với một người lấy hàng, với ít thời gian di chuyển và không phải phân loại. Các đơn hàng vừa, nhưng với nhiều hơn hai mục lấy hàng, và có quá ít hàng cho mỗi mục, thường khó lấy hiệu quả do phải di chuyển nhiều. Các đơn hàng thường được nhóm lại khi lấy đơn, khi mà chi phí liên quan đến công việc phân tách đơn hàng và không gian yêu cầu cho hoạt động này nhỏ hơn chi phí di chuyển nếu không lấy đơn theo nhóm. Với các đơn hàng chỉ có một mặt hàng luôn được lấy đơn theo nhóm vì không phải phân loại.
Với các đơn hàng lớn, có mật độ lấy đơn đủ lớn cho mỗi đơn hàng lớn thì không cần nhóm đơn khi lấy. Chỉ có đơn hàng vừa thì khó lấy hiệu quả cần cân nhắc có lấy đơn theo nhóm theo chi phí sử dụng nguồn lực.3 Lấy đơn theo nhóm Một đơn hàng có thể được lấy bởi một người, cũng có thể được lấy bởi nhiều người, hay lấy đơn theo nhóm. Lấy đơn theo nhóm nhiều người có thể mỗi lúc một người hay nhiều người đồng thời. Chiến lược lấy đơn phụ thuộc nhiều yếu 24 CHƯƠNG 1 tố, trong đó yếu tố quan trọng là thời gian lấy đơn.
Nếu mọi đơn hàng đều biết trước khi lấy đơn, hệ thống có thể lên kế hoạch lấy đơn hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế đơn hàng đến theo thời gian, và không biết trước. Thời gian lấy đơn phải thỏa lịch vận chuyển đến khách hàng, nên không có nhiều thời gian hoạch định hiệu quả việc lấy đơn. Lấy đơn theo nhóm nhiều người thường phải cân nhắc, ra quyết định cho một đơn hàng là lấy đơn tuần tự, mỗi lúc một người, hay lấy đơn đồng thời, nhiều người một lúc.
Lấy đơn tuần tự thường có thời gian lấy đơn dài, nhưng không phải phối hợp và phân chia công việc cho nhiều người. Một thống kê quan trọng để cân nhắc là thời gian từ khi nhận đơn đến khi hàng hóa sẵn sàng vận chuyển đến khách hàng. Thời gian này cần được giảm thiểu để gia tăng đáp ứng đơn hàng hay mức phục vụ khách hàng. Ước lượng thời gian cho các công việc lấy hàng, lấy đơn, nạp tải bao gồm: - Năng suất lấy hàng.
- Thời gian lấy mục hàng. - Thời gian lấy đơn. - Thời gian chất hàng. Năng suất lấy hàng là số mục hàng trung bình lấy được trong một đơn vị thời gian, thường chọn là 1 giờ, của người lấy hàng.
Thời gian lấy mục hàng là thời gian trung bình lấy được cho mỗi mục lấy hàng. Thời gian lấy đơn là thời gian trung bình cho mỗi đơn hàng, được xác định là tích số của số mục lấy hàng trung bình cho mỗi đơn hàng và thời gian lấy mục hàng trung bình. Thời gian chất hàng là thời gian lấy các đơn hàng cho 1 xe tải để vận chuyển đến khách hàng. Ước lượng công việc lấy hàng cho 1 xe tải là tổng các ước lượng cho các đơn hàng mà xe tải phải vận chuyển đến cho khách hàng.
Các ước lượng này giúp cân nhắc chiến lược lấy đơn theo nhóm nhiều người cho xe tải vận chuyển nhiều đơn hàng. Nếu tổng công việc lấy đơn và nạp tải vận chuyển đủ nhỏ, như thường gặp ở kho thương mại, thì chỉ cần một người lấy đơn cho một xe tải. Nếu tổng công việc lấy đơn và nạp tải vận chuyển một đơn hàng không lớn thì có thể tuần tự phân công mỗi người lấy đơn một đơn hàng trên chuỗi đơn hàng của xe tải. Nếu các đơn hàng lớn hay hàng hóa lưu trữ phân tán trong kho hay phải lấy đơn nhanh thì phải lấy đơn nhiều người đồng thời.
Mỗi đơn hàng được lấy nhanh nhưng thường có chi phí cao. Khách hàng thường yêu cầu đóng gói lớn khi vận chuyển nhằm giảm chi phí HOẠT ĐỘNG KHO VẬN 25 vận chuyển và nâng chuyển khi nhận hàng. Cần đóng gói các hàng lấy từ những người lấy hàng khác nhau ở những nơi lưu trữ khác nhau. Công việc đóng gói cần nhân lực và thời gian làm gia tăng thời gian lấy hàng chuẩn bị vận chuyển.
Để giảm thời gian và nhân lực, có thể sử dụng công nghệ tự động hóa cho công việc này. Các kho bán lẻ thường chuyển nhiều hàng nhỏ cho nhiều khách hàng, lấy đơn thường được tổ chức như một chuyền lắp ráp trong sản xuất. Kho được phân chia thành các khu vực như các trạm lắp ráp. Người lấy đơn được phân chia về các khu vực này và lấy hàng cho đơn khi đơn hàng tuần tự qua các khu vực, như sản phẩm được lắp ráp khi qua các trạm.
Người lấy hàng tập trung ở một khu vực nên việc lấy hàng cho đơn sẽ thuận tiện. Tuy nhiên, cần phải cân bằng giữa các khu vực lấy hàng như cân bằng chuyền lắp ráp trong sản xuất. Đơn hàng được lấy và chất hàng, vận chuyển đến khách hàng theo trình tự phát đơn. Để thuận tiện cho việc giao hàng, trình tự phát đơn ngược với trình tự giao hàng.
Thường nhà kho có nhiều khách hàng khác nhau và phải sử dụng phối hợp nhiều chiến lược lấy hàng khác nhau.4 Châm hàng Cần châm hàng hay bổ sung hàng cho hàng đã lấy để duy trì hoạt động lấy đơn. Hàng bổ sung thường có đơn vị bổ sung lớn, như theo palet hay theo thùng. Mỗi nhân viên bổ sung hàng thường có thể phục vụ cho nhiều nhân viên lấy hàng. Tỷ lệ số lượng nhân viên lấy hàng và nhân viên bổ sung phụ thuộc vào loại hàng hóa.
Tuy nhiên, châm hàng thường tốn kém hơn lấy hàng, vì người châm hàng thường phải lấy hàng từ vùng lưu trữ của kho, thường là lưu trữ theo palet, sau đó sắp xếp chuẩn bị cho việc lấy hàng thuận tiện, như phải tách các thùng từ các palet, hay phải mở các thùng để có thể lấy hàng đơn lẻ từng hộp, túi bên trong khi lấy đơn.