CHƯƠNG 1 – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KHÁCH HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM 1.1 Khách hàng và vai trò của khách hàng đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 1. Khách hàng của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Khách hàng là toàn bộ những đối tượng có liên quan trực tiếp đến đòi hỏi về chất lượng sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cần phải đáp ứng nhu cầu của họ. Với cách nhìn nhận đó khách hàng bao gồm cả khách hàng bên trong và khách hàng bên ngoài doanh nghiệp. Khách hàng bên trong là toàn bộ thành viên có tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.
Mỗi người vừa là người sản xuất, cung ứng đồng thời tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Khách hàng bên ngoài là toàn bộ các cá nhân, tổ chức có những đòi hỏi trực tiếp về chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp phải đáp ứng. Đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, khách hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức có nhu cầu về dịch vụ tư vấn/ môi giới mà doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cung cấp. Họ sẵn lòng và có khả năng tham gia trao đổi với doanh nghiệp để thoả mãn nhu cầu đó.
Khách hàng được chia thành 2 loại chính: Khách hàng cá nhân: tập hợp các khách hàng giao dịch cá nhân, hộ gia đình. Do đặc thù hoạt động tư vấn, môi giới, khách hàng cá nhân ở đây thường là cá nhân người nước ngoài sống và làm việc tại Việt Nam và có đủ khả năng chi trả cho những sản phẩm bảo hiểm có mức phí cao. Khách hàng tổ chức: tập hợp các khách hàng là các tổ chức phi chính phủ, công ty. Các khách hàng khác nhau với các loại hình hoạt động và đặc điểm khác nhau sẽ có những nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm khác nhau.
Tuy nhiên, dù là khách hàng nào thì họ cũng tìm các dịch vụ để thoả mãn nhu cầu căn bản sau: chia sẻ rủi ro với các cá nhân khác trong thị trường bảo hiểm thông qua một -12- trung gian là một doanh nghiệp bảo hiểm bằng việc trả một khoản tiền được gọi là phí bảo hiểm. Bên cạnh nhu cầu căn bản này, khách hàng còn mong muốn nhận được sự tư vấn, sự hỗ trợ trong suốt thời gian bảo hiểm và khi phát sinh khiếu nại. Với nhu cầu này, xuất hiện & tồn tại sự hoạt động của Doanh nghiệp môi giới/ tư vấn bảo hiểm. Vai trò của khách hàng đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Thị trường bảo hiểm là một phần của thị trường tài chính, với các thành phần chính: (1) Các công ty bảo hiểm: Theo Luật số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 về Kinh doanh bảo hiểm do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm (Luật 24/2000/QH10) là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
(2) Các trung gian bảo hiểm (các công ty môi giới và các đại lý bảo hiểm) Hoạt động môi giới bảo hiểm (Luật 24/2000/QH10) là việc cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và các công việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (Luật 24/2000/QH10) là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Hoạt động đại lý bảo hiểm (Luật 24/2000/QH10) là hoạt động giới thiệu, -13- chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo uỷ quyền của doanh nghiệp bảo hiểm Đại lý bảo hiểm (Luật 24/2000/QH10) là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan Hoạt động đại lý bảo hiểm (Luật 24/2000/QH10) là hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo uỷ quyền của doanh nghiệp bảo hiểm (3) Khách hàng Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Vai trò của khách hàng đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm: Trong ba thành phần của thị trường bảo hiểm, khách hàng là thành phần thứ ba, và là thành phần quan trọng nhất trong trị trường bảo hiểm.
Khách hàng chính là nguồn sống của tất cả các doanhh nghiệp, không có họ, không có kinh doanh. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Theo quy định của pháp luật, công ty bảo hiểm sẽ trả cho doanh nghiệp môi giới bảo hiểm một phần của khoản phí bảo hiểm thu được từ khách hàng được gọi là Hoa hồng môi giới bảo hiểm. Như vậy, mặc dù nhận hoa hồng từ doanh nghiệp bảo hiểm nhưng thực tế, doanh thu của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng giống như các doanh nghiệp khác là đến từ phía khách hang và khách hàng đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Hiện tại, hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm chủ yếu tập trung vào nhóm khách hàng là tổ chức, cá nhân có yếu tố -14- nước ngoài nguyên nhân chủ yếu do hiểu biết của người Việt Nam về bảo hiểm chưa cao dẫn tới những đánh giá chưa chính xác về hoạt động của ngành bảo hiểm đặc biệt đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, những doanh nghiệp không trực tiếp cung cấp sản phẩm bảo hiểm mà chỉ giữ vai trò tư vấn, hỗ trợ khách hàng. Để khách hàng có thể hiểu và tin dùng vào dịch vụ môi giới bảo hiểm đòi hỏi một sự nỗ lực rất lớn từ bản thân các doanh nghiệp trong việc tư vấn, đào tạo cho khách hàng. Không thành công trong các công việc này, bản thân doanh nghiệp môi giới bảo hiểm sẽ không thể có được khách hàng và duy trì được sự tồn tại của doanh nghiệp. Một số lý thuyết liên quan đến quản lý khách hàng của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 1.
Quản lý quan hệ khách hàng1 1. Khái niệm Hiện nay, việc hình dung quản lý quan hệ khách hàng (CRM) là cái gì, phạm vi bao phủ của nó đến đâu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp vẫn được nhìn nhận trên nhiều quan điểm khác nhau. Chỉ cần bỏ ra một vài phút để tìm kiếm trên Internet với từ khóa “CRM” chúng ta có thể nhận được hàng trăm bài viết, trang web nói về CRM với những quan điểm, góc nhìn khác nhau; hàng chục loại, sản phẩm phần mềm CRM từ các công ty khác nhau. Thậm chí có cả những ý kiến nghi ngờ về tính hiệu quả của hệ thống CRM trong kinh doanh bởi trước đó đã có ERP và hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn ISO 9000.
Nhìn chung, khái niệm về CRM được xác định theo ba quan điểm: công nghệ, chu trình bán hàng và chiến lược kinh doanh. Quan điểm coi CRM như một giải pháp công nghệ trợ giúp cho những vấn đề liên quan đến khách hàng là quan điểm tương đối phổ biến Theo quan điểm này, CRM là một kho thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau cùng với những phương pháp phân tích, thuật toán phức tạp để đưa ra những báo 1 Theo “Quản lý quan hệ khách hàng” – Th. Nguyễn Văn Dũng -15- cáo (report), bảng biểu giúp doanh nghiệp có một bức tranh tổng thể về KH, thị trường và những vấn đề cần quan tâm khác trong kinh doanh. Quan điểm thứ 2 cho rằng CRM như là năng lực của doanh nghiệp về tiếp xúc và/hoặc mua bán với khách hàng thông qua chu trình bán hàng.
Trên quan điểm này, CRM được hiểu là quy trình kinh doanh nằm trong hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000. Với các doanh nghiệp thương mại thì đây là quy trình trung tâm của cả hệ thống quản lý. Việc triển khai hệ thống CRM trong doanh nghiệp sẽ chỉ tác động tới một số bộ phận tiếp xúc với khách hàng như: tiếp thị, bán hàng, kế hoạch. Điều này đồng nghĩa với việc CRM chỉ được sử dụng để phát triển công việc chứ ít tham gia vào chu kỳ phát triển của sản phẩm.
Quan điểm thứ ba, coi CRM như chiến lược kinh doanh là quan điểm toàn diện nhất. Theo quan điểm này, CRM là một chiến lược kinh doanh toàn diện để thiết lập, duy trì và mở rộng quan hệ khách hang nhằm tối ưu hóa lợi nhuận, doanh thu và sự hài lòng của khách hàng (định nghĩa của Gartner); là một chiến lược tổng hợp với định hướng khách hàng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Với quan điểm này, CRM mang tầm vĩ mô và thường được nhằm vào lãnh đạo và những thành viên chủ chốt của các doanh nghiệp. Cho đến nay, cơ sở lý luận về CRM vẫn đang được xây dựng và hoàn chỉnh nhưng có thể khẳng định rằng CRM theo nghĩa rộng phải là một chiến lược kinh doanh định hướng khách hàng và CRM không thể chỉ là dịch vụ khách hàng thuần túy như nhiều người quan niệm.
Trong luận văn này, tác giả dựa trên quan điểm coi Quản trị quan hệ khách hàng (CRM) là một phương pháp toàn diện để thiết lập, duy trì và mở rộng quan hệ khách hang. Phân tích khái niệm Xem xét từ “toàn diện”, CRM không chỉ thuộc về lĩnh vực kinh doanh và tiếp thị, CRM không là trách nhiệm của riêng nhóm dịch vụ khách hàng, cũng không phải là sản phẩm sáng tạo bởi nhóm công nghệ thông tin. CRM là phương -16- thức kinh doanh liên quan đến mọi lĩnh vực. Khi CRM chỉ được ủy thác cho một lĩnh vực nào đó, như Công nghệ thông tin chẳng hạn, quan hệ khách hàng sẽ yếu đi.