CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan về vấn đề nghi n cứu. Trên thế giới Hiện nay, các quốc gia trên toàn thế giới luôn coi trọng phát triển GD nước mình nói chung và GDMN nói riêng, nhằm đáp ứng ngày càng cao về nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực. Có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động vui chơi của trẻ ở trường MN.
Vui chơi là hoạt động rất tự nhiên của con người, nó xuất hiện trong đời sống xã hội từ thuở xa xưa. Thế nhưng việc nghiên cứu hiện tượng đó chỉ có thể tính từ thế kỉ XIX. Từ đó đến nay học thuyết về hoạt động vui chơi của trẻ em xuất hiện khá nhiều, nổi bật lên là những học thuyết gắn liền với tên tuổi của F. Piaget (1896 – 1980) nghiên cứu về trò chơi tượng trưng, trò chơi này gợi lên ở trẻ biểu tượng về một đồ vật hay một sự kiện vắng mặt nào đó.
Ông cũng coi chơi là một cách trẻ từ chối việc thích nghi với xã hội người lớn, với những lợi ích và quy tắc do họ đặt ra, vì trẻ còn quá non nớt, còn bị chi phối bởi hiện tượng tự kỉ trung tâm (egocentrisme). Do đó trẻ cần phải dựa vào sự cân bằng về tình cảm và trí tuệ để có một lĩnh vực hoạt động mà động cơ không phải là thích nghi với cái hiện thực, trái lại đó là sự đồng hoá cái hiện thực với cái tôi, như thế trẻ vừa không bị gò bó, vừa không bị phạt – đó là hoạt động vui chơi. Phát hiện ra tính tượng trưng của hành động chơi trong trò chơi tượng trưng cũng là chỉ ra một trong những đặc trưng cơ bản phân biệt hành động chơi với hành động thực. Đó là đóng góp hết sức quan trọng của Piaget vào việc nghiên cứu lĩnh vực vui chơi của trẻ em.
Theo Piaget, có ba loại trò chơi chính lần lượt xuất hiện trong quá trình phát triển của trẻ. Đó là : trò chơi hành động chức năng, trò chơi tượng trưng (bao gồm trò chơi mô phỏng và trò chơi xây dựng) và sau cùng là trò chơi có quy tắc. Đến nay cách phân loại này vẫn còn có ý nghĩa đối với việc tổ chức chơi cho trẻ ở các độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, Piaget chưa thấy rõ bản chất xã hội của trò chơi và chưa thấy hết vai trò của giáo dục đối với hoạt động vui chơi của trẻ em.
Đây là một cách nhìn chưa thật đầy đủ của ông về trò chơi trẻ em. Không loại trừ hoàn toàn yếu tố sinh vật của hoạt động vui chơi, trong nhiều công trình của các nhà tâm lí học Xô-viết trước đây (đại diện cho tâm lí học Mac–xit) đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà tâm lí học tiến bộ ở nhiều nước trên thế giới như 6 M. trong đó có các nhà tâm lí học, giáo dục học Việt Nam. Học thuyết về hoạt động vui chơi của tâm lí học Mac–xit đã khẳng định bản chất xã hội của hoạt động vui chơi của trẻ em.
Chơi được xem như là một dạng hoạt động mang tính xã hội cả trong nguồn gốc ra đời, lẫn trong xu hướng phát triển về nội dung và cả về hình thức biểu hiện. Plekhanov (1856 – 1918) đã chú ý đến trò chơi trẻ em. Khi phân tích trò chơi trẻ em của nhiều dân tộc khác nhau (chủ yếu ở thời đại nguyên thuỷ) ông đã nhận xét rằng, trong lịch sử loài người, trò chơi và nghệ thuật xuất hiện sau lao động và trên cơ sở của lao động. Trò chơi phản ánh đời sống của con người, khi chơi trẻ bắt chước lao động của người lớn: em trai thì bắt chước đàn ông, còn em gái thì bắt chước phụ nữ.
Các em lĩnh hội một cách thực tế những kĩ năng lao động và cả thói quen của họ. Từ nhận xét đó, G. Plekhanov xem trò chơi là sợi dây nối liền các thế hệ với nhau và để truyền đạt kinh nghiệm, thành quả văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhà tâm lí học Nga kiệt xuất L.
với tư tưởng chủ đạo cho rằng trò chơi tạo ra “vùng cận phát triển gần nhất”. Trên cơ sở đó các nhà tâm lí học Xô-viết (trước đây) như A. Leonchiev (với “Cơ sở tâm lí học của trò chơi”, Đ. đã nghiên cứu lịch sử phát triển trò chơi trong mối quan hệ với chính sự phát triển của xã hội loài người, bổ sung và phát triển đầy đủ hơn tư tưởng của Vugotski về hoạt động vui chơi của trẻ.
Như vậy, vui chơi của trẻ em là một hiện tượng mang đậm bản chất xã hội, tất nhiên bên cạnh còn có những yếu tố sinh vật. Trong lịch sử các dân tộc, dân tộc nào cũng có một kho tàng trò chơi trẻ em được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Trong khi chơi, một mặt trẻ được giải trí, mặt khác trẻ tìm hiểu thêm về thế giới xung quanh, làm quen với những phương thức hoạt động của loài người mà hoàn thiện những khả năng của mình. Về vấn đề này A.
Macarenco, nhà giáo dục Nga nổi tiếng đã từng viết : Chơi có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống của đứa trẻ chẳng khác gì công việc, sự phục vụ của người lớn. Đứa trẻ thể hiện ra như thế nào trong trò chơi thì sau này trong phần lớn trường hợp nó cũng thể hiện ra như thế trong công việc. Vì vậy một nhà hoạt động tương lai trước hết phải được giáo dục trong trò chơi. Vậy toàn bộ lịch sử của mỗi con người riêng biệt là một nhà hoạt động có thể quan niệm như một quá trình hoạt động chơi, một sự chuyển dịch dần từ sự tham gia vào các trò chơi sang sự thực hiện các công việc.
Cũng vì vậy mà tác giả có quyền gọi chơi là trường học của cuộc sống”. Nhấn mạnh hơn về ý nghĩa đó, Văn hào Nga Maxim Gorki viết : “Trò chơi là con đường dẫn trẻ em đến chỗ nhận thức cái thế giới mà các em có sứ mệnh phải cải tạo sau này”. Bản chất xã hội của hoạt 7 động chơi còn thể hiện ở sự phụ thuộc của trò chơi vào những điều kiện mà mỗi xã hội tạo ra cho trẻ em. Theo các công trình nghiên cứu của L.
thì chơi của trẻ mẫu giáo không phải ngẫu nhiên mà chơi là sản phẩm sáng tạo của cá nhân dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh. Thông qua chơi, trẻ lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử - xã hội và chơi chỉ trở thành phương tiện giáo dục khi có sự hướng dẫn sư phạm đúng đắn. Các nghiên cứu ở trong nước Một trong những quan điểm cơ bản của GDMN xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan niệm việc tổ chức HĐVC cho trẻ là vấn đề rất quan trọng trong việc phát triển tình cảm, đạo đức, thẫm mỹ, trí tuệ, lao động. “Giáo dục MG cần tổ chức mọi hoạt động của trẻ theo kiểu hoạt động của con người, hoàn thiện HĐVC (mà đặc trưng ở lứa tuổi MG là trò chơi ĐVTCĐ), làm nảy sinh các yếu tố của hoạt động học tập và những tiền đề của hoạt động lao động” [7, tr.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường MG” với nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng và có kết luận rằng “Việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hướng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phương pháp khác nhau” và “GV phải nắm được tình hình vui chơi của trẻ trong lớp và các phương pháp hướng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ” [ ]. Trong cuốn “tổ chức, hướng dẫn trẻ MG chơi” Nguyễn Thị Ánh Tuyết cùng hai tác giả Nguyễn Thị Hoà, Đinh Văn Vang cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ “Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức cuộc sống của trẻ” [39, II, tr. Tài liệu bồi dưỡng “CB L và GVMN 2022” Bộ giáo dục cũng đã đề cập “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng GD và phát triển trẻ toàn diện. GV cần hiểu rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh giá HĐVC theo những yêu cầu mới trong chương trình GDMN” [9].
Đã có một số công trình nghiên cứu và nhiều bài viết về hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non. Có thể kể đến các tác giả như: Bùi Việt Phú, Phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi ơt trường màm non, Khoa học và giáo dục- Trường DHSP- ĐHĐN, 016 Trần Thị Ngọc Trâm ( 00 ), bài “Hoạt động chơi - con đường chủ yếu của việc học ở trẻ mẫu giáo”, Tạp chí Giáo dục số 28; Tạ Ngọc Thanh - Nguyễn Thị Thư ( 00 ), tài liệu “Phương pháp đánh giá trẻ trong đổi mới giáo dục mầm non”; Trần Thị Ngọc Trâm - Lê Thu Hương - Lê Thị Ánh Tuyết (2009), với tài liệu Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non Mẫu giáo Lớn (5-6 tuổi); Nguyễn Thị Thư ( 009), bài “Môi trường hoạt động cho trẻ mầm non”… Cũng trong thời gian này, vấn đề MTGD trong đó có MTVC cũng được đưa vào chương 8 trình đào tạo GVMN. Có thể kể đến các giáo trình của các tác giả Nguyễn Thị Bích Liên ( 006), “Tổ chức sinh hoạt của trẻ ở trường MN”, Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), “Tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường MN”, Đinh Văn Vang ( 009), “Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MN dành cho hệ Cao đẳng Sư phạm Mầm non”… cùng một số tài liệu bồi dưỡng viết về hoạt động vui chơi, về Góc hoạt động của các tác giả khác như Trần Mai Lan Hương, Lê Thị Thanh Nga… Vấn đề xây dựng hoạt động vui chơi, vấn đề hoạt động vui chơi cũng đã có vị trí nhất định trong các văn bản chỉ đạo của ngành học. Bổ sung thêm các công trình nghiên cứu gần nhất ( năm gần đay) Những vấn đề được các tác giả quan tâm và đề cập trong các công trình nêu trên là: Khái niệm về hoạt động vui chơi theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp; Vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ; Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng môi trường giáo dục nói chung và hoạt động vui chơi nói riêng, nguyên tắc và cách thức xây dựng hoạt động vui chơi của trẻ ở trường MN.
Những tác giả trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề quản lý HĐVC và tổ chức HĐVC cho trẻ trong trường MN theo hướng riêng của mình.