Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường trung học cơ sở huyện hoành bồ tỉnh quảng ninh

Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nghiên cứu hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số tại các trường THCS huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về tự học và quản lý hoạt động tự học của học sinh

Hoạt động tự học là một phần không thể thiếu trong quá trình giáo dục, đặc biệt đối với học sinh dân tộc thiểu số tại các trường THCS. Việc quản lý hoạt động tự học không chỉ giúp học sinh nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tự học, tự nghiên cứu. Theo UNESCO, tự học là một trong bốn trụ cột của giáo dục cho thế kỷ XXI. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh, đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Giáo dục dân tộc cần chú trọng đến việc xây dựng phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của học sinh. Việc này không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức mà còn tạo động lực cho các em trong quá trình học tập.

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về quản lý hoạt động tự học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc quản lý hoạt động tự học có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt, trong bối cảnh huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, việc này càng trở nên cần thiết khi mà học sinh dân tộc thiểu số thường gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận kiến thức. Các biện pháp quản lý cần được thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm của học sinh, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các em trong việc tự học.

1.2. Vị trí của tự học trong quá trình dạy học

Tự học không chỉ là một hoạt động bổ sung cho quá trình học tập mà còn là một phần thiết yếu trong việc hình thành nhân cách và năng lực của học sinh. Quản lý hoạt động tự học giúp học sinh phát triển khả năng tự lập, tự tin trong việc tiếp thu kiến thức. Đặc biệt, đối với học sinh dân tộc thiểu số, việc này càng quan trọng hơn khi mà các em cần phải vượt qua nhiều rào cản về ngôn ngữ và văn hóa. Việc xây dựng một môi trường học tập tích cực, khuyến khích tự học sẽ giúp các em phát huy tối đa tiềm năng của mình.

II. Thực trạng hoạt động tự học và công tác quản lý hoạt động tự học

Thực trạng hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số tại các trường THCS huyện Hoành Bồ cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc quản lý hoạt động tự học, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Học sinh thường thiếu động lực và phương pháp tự học hiệu quả. Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em. Các biện pháp quản lý hiện tại chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu và đặc điểm của học sinh. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên, phụ huynh và các tổ chức xã hội để tạo ra một môi trường học tập thuận lợi cho học sinh.

2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Hoành Bồ

Huyện Hoành Bồ có nhiều đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động tự học của học sinh. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, điều này dẫn đến nhiều gia đình không có điều kiện kinh tế để đầu tư cho việc học tập của con em. Hơn nữa, sự chênh lệch về trình độ học vấn giữa các dân tộc cũng tạo ra những rào cản trong việc tiếp cận giáo dục. Việc quản lý hoạt động tự học cần phải xem xét đến những yếu tố này để đưa ra các giải pháp phù hợp.

2.2. Kết quả khảo sát thực trạng

Kết quả khảo sát cho thấy rằng học sinh dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn trong việc tự học. Nhiều em chưa có kỹ năng tự học, chưa biết cách lập kế hoạch học tập. Điều này dẫn đến việc các em không thể phát huy hết khả năng của mình. Giáo viên cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc hướng dẫn học sinh tự học. Cần có các biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, từ việc đào tạo giáo viên đến việc tổ chức các hoạt động hỗ trợ học sinh.

III. Các biện pháp quản lý hoạt động tự học

Để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số, cần thiết phải đề xuất các biện pháp cụ thể. Các biện pháp này cần phải được xây dựng dựa trên thực trạng và đặc điểm của học sinh. Việc tổ chức các lớp học bổ trợ, các buổi hướng dẫn kỹ năng tự học sẽ giúp học sinh có thêm kiến thức và kỹ năng cần thiết. Hơn nữa, cần có sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc tạo động lực cho học sinh. Giáo viên cần đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học.

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý

Các biện pháp quản lý cần phải dựa trên nguyên tắc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động tự học. Việc này không chỉ giúp học sinh nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng sống. Giáo viên cần có những phương pháp dạy học linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của học sinh dân tộc thiểu số.

3.2. Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết khả thi của các biện pháp

Kết quả khảo nghiệm cho thấy rằng các biện pháp đề xuất đều có tính cần thiết và khả thi. Học sinh đã có những tiến bộ rõ rệt trong việc tự học sau khi áp dụng các biện pháp này. Việc quản lý hoạt động tự học cần được thực hiện một cách đồng bộ, từ việc lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng là rất quan trọng để tạo ra một môi trường học tập tích cực cho học sinh.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường trung học cơ sở huyện hoành bồ tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong lịch sử phát triển của giáo dục, việc tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến chất lượng giáo dục và hình thành nên những con người năng động, sáng tạo. Chính vì vậy, từ trước tới nay, tự học là vấn đề luôn được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập, quan tâm nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn. Những nghiên cứu ngoài nước Trong giáo dục, quan điểm của Khổng Tử, Mạnh Tử hay các nhà sư phạm lỗi lạc thời cận đại như J.

Komenxki (người Tiệp Khắc), chuyên gia giáo dục của UNESCO Raja Roy Singh (người Ấn Độ) đã khẳng định vai trò của tự học, phản đối lối dạy học áp đặt, giáo điều làm cho học sinh thụ động, không tích cực. Đến thế kỉ XVIII - XIX, các nhà giáo dục học nổi tiếng như J. Rousseau (1712 - 1778), Pestalori (1746 - 1827), Disterever (1790 - 1886), Usinxki (1824 - 1890)… rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Các nhà khoa học giáo dục hướng tới việc phát huy yếu tố tiềm ẩn trong cá nhân con người, nhấn mạnh cách làm cho con người đến với tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi.

Phát triển tư tưởng của các nhà giáo dục tiền bối, các nhà giáo dục hiện đại đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục cũng đã khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học như: N. Rubakin với tác phẩm“Tự học như thế nào” [44], hay Ronald Gross trong “Học tập đỉnh cao” [16] đã trình bày nhiều vấn đề về các phương pháp tự học, các phương pháp sử dụng sách, hoặc đưa ra quan điểm khẳng định tự học là trình độ phát triển cao nhất trong các dạng học tập của con người… Quan niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức. Những nghiên cứu trong nước Từ những năm 60 trở lại đây, tư tưởng về dạy - tự học và tổ chức hoạt động tự học cho người học đã được nhiều tác giả như: Trần Kiều [28], Nguyễn Kỳ [29, 30], Lê Khánh Bằng [1, 2], Nguyễn Văn Đạo [13], Đặng Thành Hưng [21], Lưu Xuân Mới [41]… đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình nghiên cứu của mình. Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học ra đời, ngày càng thúc đẩy mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả.

Ngày 15/01/1998 tại Hà Nội, trung tâm đã tổ chức thành công Hội thảo khoa học: “Tự học, tự đào tạo, tư tưởng chiến lược của sự phát triển giáo dục Việt Nam”. Hội thảo đã khẳng định vai trò quan trọng của HĐTH trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống. Người tâm đắc và có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề tự học phải nói đến GS. Nguyễn Cảnh Toàn.

Ông có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tự học đã xuất bản như: “Học và dạy cách học” [52], “Quá trình dạy - tự học” [53] do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên và các tác giả; hay “Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” [55]; trong tác phẩm “Luận bàn và kinh nghiệm về tự học” [54], ông đã phân tích một cách sâu sắc các vấn đề xung quanh HĐTH. Và còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác của ông về vấn đề tự học được đăng trên các báo, tạp chí… Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm, bài viết khác về vấn đề tự học đã được các tác giả đề cập đến dưới nhiều khía cạnh khác nhau: Nguyễn Hiến Lê: “Tự học - một nhu cầu của thời đại” - Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1992 31]; Phan Trọng Luận: “Tự học - một chìa khóa vàng của giáo dục” - Tạp chí NCGD, số 2/1995 [34]; Nguyễn Dân: “Cần tạo ra năng lực tự học và phong trào tự học” - Báo GD - TĐ chủ nhật, số 41/1997 [10]; Đặng Quốc Bảo: “Tấm gương tự học của Bác” - Báo GD - TĐ, số 5/1998 [3]; Trần Bá Hoành: “Vị trí tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục - đào tạo” - Tạp chí NCGD, số 7/1998 [7]. Thời gian qua, dưới sự hướng dẫn của các thầy, cô giảng viên các trường đại học, trường cán bộ quản lý giáo dục, nhiều luận văn thạc sĩ nghiên 11 cứu về vấn đề tự học đã hoàn thành như: “Quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học cơ sở dân tộc thiểu số ở trường phổ thông dân tộc bán trú tỉnh Bắc Giang” của tác giả Lê Thị Huyền, năm 2014 [23],“ “Quản lý hoạt động tự học của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông miền Tây tỉnh Yên Bái” của tác giả Phạm Hoài Minh, năm 2014 [39] ; “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định” của tác giả Đào Xuân Thành, năm 2009 [50]; “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường THCS huyện Đan Phượng, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Giang, năm 2014 [14].v… Trong đó, các tác giả trên cơ sở tìm hiểu lý luận, nghiên cứu thực trạng vấn đề tự học, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả HĐTH cho người học.

Như vậy, vấn đề tự học, tự nghiên cứu của HS, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà giáo dục, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trong lịch sử giáo dục ở những góc độ khác nhau. Tác giả đã tập trung tìm hiểu, nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của HĐTH, thực trạng và các biện pháp quản lý HĐTH, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng HĐTH của HS DTTS ở các trường THCS huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1.

Quản lý Khi con người với tư cách là những cá nhân riêng lẻ không thể thực hiện để đạt được mục tiêu mà họ đề ra, họ bắt đầu hình thành các tập thể, nhóm, trong đó có sự hợp tác và phân công trách nhiệm, chính sự phân công và hợp tác này làm cho năng suất lao động cao hơn và vì vậy đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý - quản lý ra đời. Quản lý xuất hiện như một hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao động. 12 Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau. Sau đây xin nêu một số quan niệm chủ yếu: Theo từ điển Giáo dục học: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [15, tr.

Nhấn mạnh các chức năng của hoạt động quản lý, tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [8, tr. Dựa trên vai trò các nguồn lực trong quản lý, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [27, tr. Tiếp cận quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ lại cho rằng: “Quản lý là dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [42]. Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.

Quản lý giáo dục (QLGD) Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của loài người, một hiện tượng có mục đích mà chỉ xã hội loài người mới có, các hiện tượng giáo dục được nảy sinh ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện và là nhu cầu cấp thiết của sự phát triển xã hội. Nhờ đó, các thế hệ sau chiếm lĩnh được những kinh 13 nghiệm, những tri thức giúp họ có thể tham gia tích cực vào mọi hoạt động trong cuộc sống và những lĩnh vực hoạt động khác, làm cho xã hội loài người luôn tồn tại và phát triển không ngừng. Vì giáo dục là một hiện tượng xã hội, do đó, QLGD được hình thành là một tất yếu khách quan từ quản lý xã hội, hay nói cách khác, QLGD là một loại hình của quản lý xã hội. Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD.

Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội…” [4]. Theo tác giả Trần Kiểm:“Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [27]. Từ các định nghĩa trên có thể hiểu: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý (các nhà QLGD) đến khách thể quản lý (người quản lý đơn vị cơ sở giáo dục, người dạy, người học, cơ sở vật chất.) nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục. QLGD là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số tại trường THCS huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự học cho học sinh dân tộc thiểu số. Tài liệu này đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tạo môi trường học tập tích cực, hỗ trợ học sinh phát huy tối đa khả năng tự học, đồng thời góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục, giáo viên và những ai quan tâm đến giáo dục vùng dân tộc thiểu số.

Để mở rộng kiến thức về quản lý giáo dục trong môi trường dân tộc thiểu số, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách giáo dục ngôn ngữ dân tộc thiểu số cho học sinh người dân tộc thiểu số tỉnh đắk lắk, nghiên cứu về chính sách giáo dục ngôn ngữ. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh bắc kạn cung cấp góc nhìn về quản lý tâm lý học đường, một yếu tố quan trọng trong giáo dục toàn diện. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý sự thay đổi trường thpt hiện nay nghiên cứu trường hợp trường thpt dân tộc nội trú tỉnh tuyên quang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý sự thay đổi trong môi trường giáo dục dân tộc. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này!