CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan của vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài François Rabelais (1494 - 1553), một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp thời Phục hưng, đã có sáng kiến quản lý các hình thức giáo dục có nội dung “trí dục, đạo dức, thể chất và thẩm mĩ” ngoài giờ học ở lớp bằng việc tổ chức các buổi tham quan xuởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày để trải nghiệm thực tiễn cuộc sống [46]. Jan Amos Komensky (1592 - 1670), ông tổ nền giáo dục cận đại trong thời gian làm cố vấn giáo dục tại Hung-Ga-Ry đã rất coi trọng HĐGDTN, nguời đặt nền móng cho sự ra đời của nhà truờng hiện nay, lại xem quản lý việc học tập của HS kết hợp với các hoạt động ngoài giờ học là một cách giải phóng học tập ra khỏi sự “giam hãm trong bốn bức tuờng” của truờng học thời trung cổ và cho rằng “Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất., Ông cho HS tham gia biểu diễn sân khấu để giúp các em ghi nhớ sâu sắc những nội dung cần thiết.
Ông thấy rằng, những chàng trai thường ngày rụt rè, nay ra trước công chúng với vẻ tự tin, xử sự điềm tỉnh. Komensky đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là các hình thức dạy học ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy khả năng tiềm ẩn, rèn luyện cá tính cho HS, dạy học phải gắn chặt với thực tiễn [46]. Thế kỷ XX, các nước Châu Âu đạt nhiều thành tựu về khoa học và công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin, kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu phát triển, giáo dục của các nước Châu Âu trong chương trình GDPT đã chú trọng đến giáo dục nghề với nội dung tạo sự gắn kết giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề và hướng nghiệp cho HS nhằm mục đích định hướng nghề nghiệp cho HS.
Ba Lan, Cộng hòa Pháp đẩy mạnh giáo dục “tiền nghề nghiệp” ở bậc học phổ thông, giáo dục ở các nước này đều giảm thời lượng hàn lâm mà chú trọng đến giáo dục hướng nghiệp cho HS. Đối với nước Đức, bậc tiểu học đã đề cập đến hướng nghiệp cho HS, các CBQL giáo dục ở Đức đã xây dựng cơ sở khoa học dạy học lao động nghề nghiệp. Giáo dục nước Đức đã liên kết giữa trường phổ thông với những trung tâm kĩ thuật tổng hợp để HS tới đó trải nghiệm, như vậy giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Điểm mới so với các nước châu Âu là học sinh tiểu học đã được tiếp cận hướng nghiệp, sau lớp 10 HS được chia 2 nhánh loại học trở thành công nhân 7 lành nghề, loại học hết lớp 12 phổ thông, sau lớp 12 lại được tiếp tục phân loại lần nữa hoặc vào đại học hoặc vào trung cấp nghề [25].
Còn ở Nga, hoạt động giáo dục hướng nghiệp được thực hiện nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự chọn nghề của HS, giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện quan hệ thị trường, tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người, chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động, không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan trọng nhất để đáp ứng yêu cầu phát triển của người trong lao động. Nội dung đào tạo sơ cấp nghề được đưa vào GD trung học (3 năm), đề cập đến liên thông trong GDNN (sơ cấp, trung cấp và đại học), chú trọng đến GD kĩ thuật nghề nghiệp [19]. GDPT ở Mỹ cấu trúc theo hệ thống 6-3-3, ngay từ cấp tiểu học (1-6) HS đã bước đầu làm quen với thế giới lao động nghề nghiệp ở mức độ thích hợp. Đặc biệt đối với các nghề thường gặp trong đời sống hằng ngày của các em như thợ máy, cảnh sát, bác sĩ, lái xe,…Các em được giới thiệu, mô tả và quan sát thực tế các nghề phổ biến, hình thành bước đầu những yêu cầu đơn giản của các loại hình lao động nghề nghiệp được làm quen.
Ở bậc sơ trung (7-9), HS có chương trình tham gia lao động trong các cơ sở sản xuất và dịch vụ ở địa phương, trên cơ sở đó hình thành những kiến thức cụ thể hơn về các loại hình lao động nghề nghiệp và hình thành những thói quen, các kĩ năng lao động chung. Ở bậc cao trung (10-12), HS được phân hóa theo ba hướng lớn: hướng phổ thông, hướng lên ĐH và CĐ, hướng thực hành [46]. Như vậy, qua các nghiên cứu về HĐTN, HN và quản lý HĐTN, HN có thể thấy trong xuyên suốt lịch sử giáo dục thế giới, từ xưa cho đến nay, các nhà giáo dục lớn luôn khẳng định vai trò to lớn và rất quan trọng vấn đề giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp. Ngày nay, vấn đề giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp còn được đề cao hơn bởi do sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ.
Chính vì thế, nếu không nhanh chóng tiếp cận những tiến bộ khoa học công nghệ thế giới thông qua trải nghiệm thực tế thì sẽ không theo kịp những tiến bộ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và những kỹ năng sống để thích ứng, thay đổi phù hợp với xã hội phát triển như hiện nay. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, HĐTN, HN được xác định là một trong những hoạt động giáo dục cơ bản thực hiện trong trường học nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho thế hệ trẻ. Mặc dù trên thế giới, HĐTN, HN được bắt đầu nghiên cứu từ rất sớm nhưng ở Việt Nam, việc tiếp cận nghiên cứu về HDTN, HN và quản lý HĐTN, HN còn nhiều hạn chế: vẫn còn ít công trình, tài liệu nghiên cứu và vận dụng. Có thể kể đến một số nhà giáo dục tiêu biểu và các công trình nghiên cứu về HĐTN, HN như sau: 8 Lê Quý Đôn (1726 - 1784), là vị quan thời Lê, cũng là nhà thơ, nhà giáo dục và được mệnh danh là "nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến thế kỷ 18, Lê Quý Đôn quan tâm đến giáo dục toàn diện.
Ông là người Việt Nam đầu tiên nêu rõ quan điểm và ý kiến của mình về nhiều mặt giáo dục: giáo dục đạo đức, giáo dục văn hóa khoa học, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục kỹ thuật, giáo dục gia đình và hôn nhân, giáo dục xã hội, giáo dục pháp chế, học đi đôi với hành. Trong bất cứ giáo dục nào, ông đều có ý kiến xác đáng và độc đáo. Đặc biệt ông quan tâm đến yêu cầu “học đi đôi với hành” và yêu cầu “tự giáo dục”. Ông viết: “Đọc sách một thước không bằng làm được một tấc”, “đọc sách không cần đọc nhiều, đọc được một chữ đem áp dụng một chữ, thế là được” [17].
Đặc biệt, trong thời gian gần đây đề án đổi mới GDPT của Bộ GD-ĐT đã được Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 03 năm 2015, được xây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực; chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và định hướng nghề nghiệp cho mỗi HS; tăng cường năng lực ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng, phát huy thành quả khoa học công nghệ thế giới, nhất là công nghệ giáo dục và công nghệ thông tin. Chương trình mới, sách giáo khoa mới lấy HS làm trung tâm, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của HS; tăng cường tính tương tác trong dạy và học giữa thầy với trò, trò với trò và giữa các thầy giáo, cô giáo, chú trọng giáo dục trải nghiệm. Năm 2011, lần đầu tiên môn học “Giáo dục trải nghiệm” được giảng dạy cho sinh viên thuộc chương trình đào tạo Cử nhân khoa học ngành QL, liên kết giữa khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội với Đại học Keuka, Mỹ. Với 20 nội dung và mục tiêu của môn học nhằm giúp sinh viên gần gũi hơn với cuộc sống, với xã hội và có thêm được những trải nghiệm thực tế, những điều mà các em có thể chưa nắm bắt được khi học qua sách vở tại trường đại học [25].
Trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học” đã dành 51 trang cho Modul “Quản lý hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trong trường trung học” [52], modul đã cung cấp kiến thức về tầm quan trọng, những nội dung cơ bản, hình thức và cách thức tổ chức các HĐTN, HN, cung cấp kiến thức về kỹ năng tổ chức trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường phổ thông cho đội ngũ CBQL và giáo viên. Bên cạnh đó, tài liệu cũng hướng dẫn cách xác định được nhiệm vụ và biện pháp quản lý HĐTN, HN phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, đạt hiệu quả nhằm rèn luyện các năng lực hướng nghiệp và các phẩm chất cần thiết cho HS. Từ đó, CBQL vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã lĩnh hội được 9 vào quản lý các HĐTN, HN trong trường phổ thông. Trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên phổ thông cốt cán” năm 2020 của Trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, nội dung Modul 4 có hai chủ đề đề cập đến HĐTN, HN là “Xây dựng kế hoạch giáo dục HĐTN, HN ở trường THPT” và “Xây dựng kế hoạch giáo dục HĐTN, HN theo chủ đề ở trường THPT”.
Nội dung của hai chủ đề này cung cấp cho chúng ta hiểu rõ hơn về mục tiêu của chương trình hoạt HĐTN, HN; hướng dẫn các phương thức tổ chức và loại hình HĐTN, HN. Bên cạnh đó tài liệu giúp đội ngũ CBQL và GV ở trường THPT biết cách xây dựng kế hoạch giáo dục HĐTN, HN theo chủ đề .