Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường mầm non và gia đình trẻ trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Biện pháp quản lý việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƢỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Những nghiên cứu về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình Việc nghiên cứu về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ em đã trở thành một trong những nguyên lý cơ bản của nền giáo dục. Đây là vấn đề được các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà Tâm lý học, Giáo dục học quan tâm, nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này trên các phương diện, góc độ khác nhau: Thế kỉ XVII, nhà giáo dục người Tiệp Khắc tên là J.Comenxki (1592- 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, tác giả cuốn sách “Lí luận dạy học”, đã chỉ ra tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa nhà trường và gia đình trong quá trình giáo dục trẻ. Ông là người đầu tiên nêu ra một hệ thống lý luận chặt chẽ về tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa nhà trường và gia đình đối với kết quả giáo dục trẻ. Ông khẳng định lòng ham học của trẻ bắt nguồn từ sự kích thích của thầy cô giáo và bố mẹ chúng: “Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất, làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh”.
Ông cũng nêu lên vai trò của giáo dục của gia đình: “Bổn phận của cha mẹ là cùng nhau chăm lo dạy bảo con cái. Mục đích đặt ra là làm sao cho con cái trưởng thành để lo lắng cho bản thân và cho cả người khác” [13]. Nhà giáo dục của Liên Xô,V.Xukhomlinxki (1918-1970), cũng đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc thực hiện mục đích giáo dục những người công dân chân chính trong tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ông khẳng định, nếu nhà trường và gia đình không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng “Gia đình một đường, nhà trường một nẻo” [46].
Xôrôkina (1979), trong cuốn “Giáo dục mầm non” (Tập II), đã đề cập rất cụ thể về mối quan hệ hợp tác giữa gia đình và trường trong công tác giáo dục trẻ. Ông cho rằng, các bậc cha mẹ có thể đến thăm trường bất cứ lúc nào,và xem các em học, vui chơi, vẽ, hát… như thế nào. Những lần thăm như vậy không làm nhà trường bận bịu thêm mà lại có lợi đối với các bậc cha mẹ. Nhà trường cũng 7 tổ chức những ngày học công khai để các bậc cha mẹ đến trường tìm hiểu nội dung và phương pháp giáo dục ở nhà trường, các bậc cha mẹ quan sát công việc của cô giáo, phương pháp tác động đến trẻ của cô giáo và kết quả của những phương pháp ấy.
Quan sát trẻ trong hoàn cảnh ở trường, các bậc cha mẹ bắt đầu hiểu và đánh giá được vai trò của tập thể trẻ em. Sau khi cha mẹ quan sát công việc của cô giáo với trẻ, trước khi họ ra về, cô giáo nên trao đổi với họ, lắng nghe những đề nghị, những ý kiến góp ý của họ. Cần có sự trao đổi như vậy rất có ích cho cả hai bên, nhà trường sử dụng kinh nghiệm của cha mẹ và trên cơ sở những lời góp ý của họ để cải tiến công tác, còn cha mẹ hiểu sâu hơn về tính chất phức tạp và trách nhiệm công tác của cô giáo, tôn trọng cô giáo, học được phương pháp công tác với các con [45]. Đầu thế kỉ 21, vai trò của gia đình trong hoạt động phối hợp với nhà trường được đề cao hơn nữa.
Trong bài phát biểu gần đây của mình, tại một hội nghị diễn ra ở London, ông Alan Johnson, bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh, cho rằng cha mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường. Ngược lại, ông cho biết vai trò của các bậc phụ huynh rất quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một sự “khác biệt lớn” so với những kết quả mà trẻ đạt được từ trường học. Theo ông Johnson, việc giáo dục con trẻ tuy là vấn đề riêng tư của mỗi gia đình nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến xã hội sau này (Báo Tuổi Trẻ ngày 13/11/2006). Những năm đầu thế kỷ XXI, các nước phát triển như: Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…đều quan tâm cải cách chương trình giáo dục nhằm đổi mới toàn diện nền giáo dục của đất nước, Khuynh hướng cải cách giáo dục là tập trung thu hút và tăng cường sự tham gia của các lực lượng xã hội, trong đó có gia đình vào hoạt động giáo dục.
và Moles trong cuốn sách “Cha mẹ và cộng đồng” đã nghiên cứu và chỉ ra những ảnh hưởng khi cha mẹ học sinh có những hình thức tham gia vào quá trình học tập của học sinh. Các thành tích, kết quả đạt được và hành vi, thái độ của học sinh có liên quan đến những việc như: cha mẹ tham gia với tư cách là trợ lý lớp học, cha mẹ làm tình nguyện viên, hỗ trợ làm bài tập ở nhà và tạo môi trường giáo dục ở nhà. Ở Việt Nam, lịch sử giáo dục học đã khẳng định giữa gia đình (đại diện là cha mẹ học sinh) và nhà trường phải có mối quan hệ chặt chẽ trong việc giáo dục trẻ. Câu thành ngữ “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy Thầy” đã khái quát ý nghĩa lớn lao về mối quan hệ này.
Trong các giáo trình Tâm lý học, Giáo dục học đều đề cập đến vấn đề phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác giáo dục trẻ. Tổng hợp quan điểm lý luận và 8 thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối hợp giữa gia đình với nhà trường trong việc giáo dục thế hệ trẻ, chúng ta thấy những công trình tiêu biểu như: Tác giả Phạm Khắc Chương trong cuốn “Giáo dục gia đình” (1994) cho rằng, để cho việc giáo dục gia đình có hiệu quả tốt nhằm hình thành và phát triển nhân cách của một người công dân tương lai chân chính, góp phần xây dựng xã hội mới, các bậc cha mẹ không những phải luôn luôn quan tâm xây dựng một nền văn hóa gia đình tốt đẹp mà còn cần sự hợp tác, sự kết hợp nhịp nhàng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau giữa ba môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội thành một quá trình thống nhất, liên tục, tác động mạnh vào việc phát triển nhân cách toàn diện của trẻ. Việc phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa (XHCN). Mọi lợi ích noi chung, quyền lợi được giáo dục nói riêng của tất cả các nhóm xã hội được xích lại gần nhau vì một mục tiêu chung là đào tạo người công dân chân chính theo yêu cầu của xã hội.
Theo tác giả, sự phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục nói trên trước hết phải đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức cũng như hành động, giáo dục cùng một hướng, một mục đích, một tác động tổ hợp, tập trung sức mạnh kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách học sinh, tránh sự tách rời, mâu thuẫn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân cách [12, tr. Tác giả Trần Thị Bích Trà (2008), trong đề tài NCKH cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng CS - GD trẻ từ 0 - 6 tuổi ở gia đình”đã phân tích vai trò của giao đình trong việc giáo dục trẻ từ 0 - 6 tuổi, đặc điểm của giáo dục gia đình, các nội dung, phương pháp CS - GD trẻ từ 0 - 6 tuổi ở gia đình. Đặc biệt là đã đề xuất được các biện pháp nâng cao chất lượng CS - GD trẻ từ 0 - 6 tuổi ở gia đình, hỗ trợ với nhà trường trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non [38]. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương Thủy, Nguyễn Thị Thọ (2014) trong cuốn “Gia đình và giáo dục gia đình”đã chỉ ra các nội dung và cách thức hướng dẫn cha mẹ phối hợp với nhà trường trong công tác giáo dục con cái.
Điểm nhấn mạnh trong các biện pháp phối hợp đó là cha mẹ phải là tấm gương về sự kính trọng thầy cô và thống nhất phương pháp giáo dục nhà trường trong dạy dỗ con cái [37]. Trong các tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình Giáo dục Mầm Non (2016) theo Thông tư 28/2016/TT BGDĐT 30/12/2016 sửa đổi bổ sung một số nội dung theo chương trình giáo dục Mầm non, các tác giả Lê Thị Ánh Tuyết, Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương đã xác định các nội dung phối hợp giữa trường mầm non với gia đình gồm: Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức 9 khỏe cho trẻ; phối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ; phối hợp kiểm tra đánh giá công tác CS - GD trẻ của trường mầm non; tham gia xây dựng cơ sở vật chất. Tài liệu cũng chỉ ra các hình thức phối hợp của nhà trường với gia đình như: thông qua bảng thông báo, góc “Tuyên truyền cho cha mẹ” của nhà trường hoặc tại mỗi nhóm lớp hoặc trao đổi thưởng xuyên, hằng ngày trong các giờ đón, trả trẻ; tổ chức những buổi sinh hoạt, phổ biến kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ theo chuyện đặc biệt hoặc khi có dịch bệnh; thông qua các kỳ họp phụ huynh định kì (3 lần/1 năm); thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe cho trẻ; hội thi, hoạt động văn hóa văn nghệ; qua hòm thư cha mẹ và các phương tiện thông tin đại chúng [43].