Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh THPT thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Biện pháp quản lý phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh THPT thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP CỦA NHÀ TRƢỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức Trong những năm gần đây, khi xu thế toàn cầu hoá, hội nhập với thế giới, mở ra cho nước ta những thời cơ, vận hội mới. Nền kinh tế đã có những bước phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân được nâng lên. Công tác giáo dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chăm lo.
Trong từng gia đình, nhà trường, các tổ chức Đoàn thể đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Giáo dục đạo đức HS là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó giáo dục ở nhà trường có vai trò định hướng. Đó là sứ mệnh lịch sử - vinh dự và trách nhiệm mà xã hội giao cho nhà trường và mỗi GV nói riêng, ngành GD&ĐT nói chung. Để công tác GDĐĐ cho HS ở trường THPT đạt hiệu quả cao thì nhất thiết phải kể đến vai trò của công tác quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS.
Chính vì vậy, trong những năm qua, có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý GDĐĐ cho HS. Có thể kể ra một số công trình: Nguyễn Anh Tú (2011) trong Luận văn thạc sỹ QLGD về “Biện pháp tổ chức quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình” đx tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động GDĐĐ và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS 3 trường THPT huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, từ đó đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ được tác giả trình bày rất khoa học và manh tính khả thi cao, có thể áp dụng rộng rãi trong quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT[37]. Trong luận văn thạc sỹ QLGD của Đặng Trần Hiếu (2012)“ iện pháp quản giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trung học phổ th ng ên iên ia 8 âm Hà Nội”, tác giả đã phân tích, đánh giá kỹ về thực trạng việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội, từ đó đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý GDĐĐ cho Hiệu trưởng trường THPT Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội. Tuy nhiên luận văn lại chưa nghiên cứu sâu về các nội dung quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT [18].
Nguyễn Thị Liên (2017) với Luận văn thạc sỹ: “Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ hội nhập” đã phân tích thực trạng GDĐĐ và quản lý GDĐĐ của các trường THPT huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đề xuất và khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của 06 biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho các trường THPT huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS được tác giả trình bày rất khoa học và manh tính khả thi cao, có thể áp dụng rộng rãi trong quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT…[30] Có khá nhiều các công trình nghiên cứu về quản lý GDĐĐ cho HS THPT. Các công trình trên đều có một điểm chung: trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lí luận về quản lý GDĐĐ cho HS (giáo dục đạo đức; quản lý giáo dục đạo đức; các yếu tố ảnh hưởng) phát hiện thực trạng GDĐĐ và quản lý GDĐĐ của các chủ thể quản lý khác nhau trên các địa bàn khác nhau của cả nước đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cụ thể cho HS tại các cơ sở giáo dục phổ thông. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh Việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội từ lâu đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa [29].
Ngày nay, vấn đề 9 GDĐĐ đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của không chỉ các nhà giáo dục mà còn là của gia đình và toàn thể xã hội. Những biểu hiện xuống cấp đạo đức trong xã hội, trong đó có học sinh như: bạo lực, ma túy, trộm cắp, vô lễ, nói tục, chửi bậy… diễn ra khá phổ biến. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản chỉ đạo về việc nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho thế hệ trẻ. Trong các văn kiện của Đảng thường xuyên thể hiện sự quan tâm đến việc xây dựng con người Việt Nam, đặc biệt là đạo đức con người Việt Nam qua các thời kỳ.
Đảng ta đã chủ trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức lòng yêu nước chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng ứa tuổi và bậc học. Đứng trước thực tế này, trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho thế hệ trẻ, đặc biệt là sự phối hợp giữa các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ. Tác giải Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1988), đã đề cập đến vai trò, cách thức tổ chức sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ trong cương 20: “Sự kết hợp của giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội” [28]. Tác giải Nguyễn Thị Kỳ (1996)-Trung tâm Khoa học Giáo dục – đã bàn về mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh trong tác phẩm: “Ngững quan điểm, phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”[29].
Tác giả Nguyễn Hoàng Đông (2019) trong bài báo “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên và kỹ thuật hướng nghiệp tỉnh Đồng Tháp” (Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 7/2019) qua khảo sát thực trạng đã đề xuất một số biện pháp quản lý, trong đó có biện pháp Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và các lực lượng liên quan về sự cần thiết quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Tác giả Phạm Khắc Chương cũng đã đề cập đến nội dung và cách thức tổ chức sự phối hợp giữa các lực lượng này trong giáo dục đạo đức cho học sinh trong tác phẩm: “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác”[8]. 10 Báo Giáo dục và thời đại điện tử ngày 9/8/2019 có bài viết của tác giả Trần Mai Hồng, trường THPT Chu Văn An, Ninh Thuận:“Phối hợp nhà trường gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh THPT”. Trong bài viết, tác giả chỉ rõ trên thực tế, sự phối hợp giữa ba lực lượng trên trong giáo dục học sinh THPT rất lỏng lẻo, do nhiều nguyên nhân, song do cả hai phía giáo viên và phụ huynh học sinh.
“Giáo viên chủ nhiệm chỉ gặp gỡ phụ huynh học sinh trong ba buổi họp phụ huynh, thậm chí không trò chuyện với cô giáo. Giáo viên lại càng ít đến thăm nhà học sinh, chỉ gặp trong những dịp đặc biệt, vì vậy để phối hợp đạt hiệu quả cao thì nhà trường phải đóng vai trò chủ động hơn trong phối hợp” [22] Tác giả Hoàng Hải Quế, có bài viết đăng trên Tạp chí Giáo dục: “Phối hợp nhà trường gia đình và xã hội trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non” trong đó, tác giả nêu rõ, sự phối hợp giữa các lực lượng có vai trò và tác động vô cùng quan trọng trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ. Muốn vậy, cha mẹ, người lớn phải giữ uy tín, vai trò gương mẫu của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Nhà trường vừa phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện vừa phải phối hợp chặt chẽ với gia đình, với các tổ chức xã hội.
Nhà trường cần phát huy vai trò là trung tâm văn hóa giáo dục của địa phương, tổ chức việc phổ biến các tri thức khoa học kĩ thuật, văn hóa xã hội … [32] Tóm lại, các công trình trên đã đề cập đến sự phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh ở những khía cạnh khác nhau: nội dung phối hợp, cách thức hối hợp, hiệu quả. Những khó khăn trong việc phối hợp… trong giáo dục học sinh. Các công trình đề cập đến sự phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông còn khá hạn chế, vì vậy cần được đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống hơn. Để công tác phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh đạt kết quả như mong muốn, người quản lý phải thực hiện tốt việc quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục.
Trong lĩnh vực quản lý giáo dục đã có một số công trình nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý hoạt động phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh trên các địa bàn khác nhau trong cả nước. Có thể kể ra một số công trình: 11 Tác giả Trần Thị Mai Hạnh (2010) với đề tài: “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS Thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” đã phân tích thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS Thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, tác giả đã đề một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho HS THCS hiện nay [14].