Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3 - 4 TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại các trường mầm non Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng của các trường mầm non. Sự phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi này đóng vai trò quan trọng, làm phương tiện cho các hoạt động khác nhau ở trường mầm non.
Một số bài viết/ công trình nghiên cứu được nhiều người biết đến như: Trên thế giới, một số công trình nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ em như: Tiedemann (1787) có những nghiên cứu đầu tiên về sự tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ em thông qua việc thu thập dữ liệu trong suốt quá trình phát triển của trẻ từ khi sinh ra đến 30 tháng tuổi. Preyer (1882) ghi chép một cách chi tiết hàng ngày sự phát triển ngôn ngữ của con trai mình trong ba năm đầu đời. Các tác giả trên ưu tiên mô tả bối cảnh và ý nghĩa của từ ngữ được trẻ tạo ra (Campbell & Wales, 1970). Nghiên cứu quy mô lớn của Smith (1926) về quy mô vốn từ vựng và độ dài câu của trẻ ở các độ tuổi khác nhau đã góp phần xây dựng nên các cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển vốn từ của trẻ.
Chomsky (1957) nhận định con người khi mới sinh ra đã được trang bị về mặt sinh học để có thể học ngôn ngữ, đây chính là cơ chế lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh. Theo ông, dù không nhận được sự hướng dẫn có hệ thống của người lớn, trẻ vẫn có thể lĩnh hội ngôn ngữ dễ dàng và sử dụng câu đúng ngữ pháp nhờ vào hệ thống quy tắc ngữ pháp được ứng dụng cho tất cả ngôn ngữ. Theo Vygotsky (1962), ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển thông 6 qua quá trình tương tác liên tục của môi trường xã hội với các yếu tố bẩm sinh của trẻ. Với trẻ mầm non, cần tạo động cơ, hứng thú viết cho trẻ bằng hoạt động viết có ý nghĩa để ngôn ngữ viết được hình thành ở trẻ một cách tự do.
Berk (2006) trình bày sự phát triển của các bộ phận tạo thành ngôn ngữ: âm vị, ngữ pháp, ngữ dụng, từ đó đưa ra cái nhìn tổng quát về sự phát triển ngôn ngữ trẻ em từ giai đoạn sơ sinh cho đến 6 tuổi. Đồng thời, tác giả kết luận rằng các mối quan hệ trong môi trường gia đình và trường học có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ nói chung và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nói riêng. Byrnes và Wasik (2009) quan tâm đến các cột mốc phát triển ngôn ngữ của trẻ ở các độ tuổi khác nhau, các tác giả cũng lý giải các yếu tố giúp giải thích tại sao một số trẻ tiếp thu sự hướng dẫn của nhà giáo dục dễ dàng hơn những trẻ khác và cung cấp một số các chương trình được thiết kế để cải thiện ngôn ngữ của trẻ áp dụng cho các lớp học trong thực tế. Rowland (2014) kết luận rằng ngôn ngữ có nhiều khía cạnh, để thông thạo một ngôn ngữ đòi hỏi đứa trẻ phải thông thạo nhiều kĩ năng và nhiều loại kiến thức khác nhau, phụ thuộc vào ngôn ngữ mà trẻ tiếp xúc.
Ở Việt Nam, các tác giả nghiên cứu theo hướng kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; xây dựng và chỉ dẫn những phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ hoạt động tích hợp các hoạt động trong việc dạy học. Bài viết Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non theo hướng “học với động cơ chơi [16] của tác giả Trần Nguyễn Nguyên Hân đã giới thiệu một số hình thức tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non theo hướng “học với động cơ chơi”, như sử dụng đồ dùng dạy học, sử dụng lời nói, sử dụng môi trường lớp học, sử dụng ấn phẩm và ứng dụng công nghệ thông tin. Bài viết đã trình bày mục đích, chuẩn bị, cách tiến hành trong mỗi trò chơi một cách tường minh, dễ thực hiện. Một số trò chơi tiêu biểu như Bé viết tên, Gà biết là gì, Nối đúng từ với tranh, Tủ đồ của bạn, Bàn tay khéo léo… Nhóm tác giả Bùi Kim Tuyến, Nguyễn Thị Cẩm Bích - Lưu Thị Lan, 7 Vũ Thị Hồng Tâm, Đặng Thu Quỳnh trong công trình Các hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non [37] đồng quan điểm chú trọng đến sự giao tiếp trực tiếp giữa GV với từng trẻ, thể hiện qua lời nói, cử chỉ, tình cảm, kiên trì nghe và đáp lại mong muốn của trẻ.
GV sử dụng câu hỏi khích lệ trẻ vận động một cách tích cực, khám phá đồ vật, đồ chơi, phát huy trí tò mò, tưởng tượng, sáng tạo và tính độc lập của trẻ ngay từ nhỏ, hướng dẫn trẻ nhưng không làm thay trẻ. GV cần chú ý trong ba năm đầu trẻ phát triển rất nhanh và phát triển với những đặc điểm và nhịp điệu riêng. Do đó trong khi tiến hành hoạt động, GV cần điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển và hứng thú của từng trẻ, đồng thời chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi (nếu cần) phù hợp với điều kiện của nhóm/lớp. Các tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của GV trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hình thức học và chơi.
Nhóm tác giả Trần Lan Hương, Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thư (2021) trong cuốn Hướng dẫn các hoạt động phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ mầm non [21] đã tập trung trình bày lí thuyết về phát triển ngôn ngữ, đặc điểm và khả năng phát triển ngôn ngữ của các lứa tuổi mầm non. Điểm nổi bật của công trình nghiên cứu này là đề xuất các cách thức thực hiện để phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho các độ tuổi của trẻ mầm non ở trong những điều kiện, môi trường khác nhau. Bộ sách Phát triển ngôn ngữ cho trẻ của tác giả [31] An Khánh Nhung hướng tới thiết kế những câu nói ngắn gọn để hướng dẫn trẻ nói gắn với những tình huống cụ thể thường gặp trong cuộc sống. Đây là một tư liệu hữu ích gợi ý cho cha mẹ và GV sử dụng những câu nói quen thuộc, gắn với hoàn cảnh thực tế trong đời sống hàng ngày để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi.
Giáo trình Tiếng Việt và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non [27] của nhóm tác giả Lã Thị Bắc Lý, Đinh Thanh Tuyến (đồng chủ biên, Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thu Nga đã trình bày các nội dung nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt ở mặt từ loại, cấu trúc ngữ pháp và các 8 phương pháp tác động vào nhận thức của trẻ để phát triển ngôn ngữ vốn ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Các tác giả Nguyễn Xuân Khoa (2004), Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2005), Nguyễn Thị Phương Nga (2006), Đinh Hồng Thái (2010) đều đề cập đến phương pháp. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi bao gồm hình thành và phát triển vốn từ vựng cho trẻ, học cách sử dụng các mẫu câu tiếng Việt, học cách nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ các kỹ năng tiền đọc viết và phát triển ngôn ngữ nghệ thuật. Các nhiệm vụ được phân tích cụ thể theo giai đoạn phát triển của trẻ.
Một số phương pháp được sử dụng để PTNN cho trẻ như đàm thoại, giảng giải, kể và đọc truyện, đọc thơ, quan sát, dùng trò chơi… Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non. Các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi trong gia đình của Lưu Thị Thanh Hương [22]. Sách giáo khoa phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo [30] Tác giả Nguyễn Thị Phương Nga. Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non [25] Tác giả Nguyễn Xuân Cơ.
Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo theo hướng tích hợp [22] Viết bởi Lê Thu Hương. Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non theo định hướng tích hợp của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chiến lược Chương trình Giáo dục Mầm non [43]. Nhìn chung các công trình nghiên cứu về hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non trên thế giới và ở Việt Nam đều có những điểm gặp gỡ: Thứ nhất, các công trình nêu lên ý nghĩa, đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn 2 - 6 tuổi. Thứ hai, các công trình hướng tới đề xuất các biện pháp tác động tới nhận thức, tạo điều kiện môi trường để trẻ phát triển ngôn ngữ.
Nghiên cứu về quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại các trường mầm non theo hướng tích hợp Nghiên cứu về quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại các trường mầm non theo hướng tích hợp được các tác giả quan tâm và nghiên cứu trong khoảng mười năm gần đây. Trong nội dung nghiên cứu này, chúng tôi điểm lại một sống công trình dưới đây: Trong Biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non Thành phố Thái Nguyên [11], tác giả Đào Thị Thu Hà dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn để đề xuất 6 biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non thuộc thành phố Thái Nguyên như: Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi của hiệu trưởng, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh; Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và thời đại hiện nay pháp hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi tại trường mầm non; Thường xuyên kiểm tra, quản lý giáo viên thực hiện quy chế chuyên môn, xây dựng các tiêu chí đánh giá giáo viên về hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non; Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tập trung quản lý sử dụng có hiệu quả trang thiết bị dạy học, tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non; Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, phát huy các tiềm năng từ xã hội hoá giáo dục cho hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non.