CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG TRẺ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động nuôi dưỡng Điều 19 Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 khẳng định quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng là quyền cơ bản của trẻ em. Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ pháp lý tôn trọng và bảo đảm thực thi nghiêm chỉnh quyền này trong hệ thống luật pháp quốc gia. Nghiên cứu về chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em đã được tiến hành từ lâu, áp dụng đa dạng phương pháp và góc nhìn.
Tuy nhiên, những thách thức liên quan đến trẻ em, gia đình, nhà trường và cộng đồng vẫn tồn tại. Nhà nghiên cứu Robertg Mayer nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư vào chương trình chăm sóc và phát triển trẻ thơ ngay từ giai đoạn sớm, ví von như việc xây dựng nền móng vững chắc cho một công trình kiến trúc đồ sộ. Tác phẩm "GV và hoạt động với gia đình" của nhà nghiên cứu người Nga Ubanxkaia đề cập đến vai trò then chốt của nhà trường, đặc biệt là hiệu trưởng, trong việc phối hợp với phụ huynh. Điều này bao gồm quản lý hoạt động chung, tư vấn, giao tiếp trực tiếp và đào tạo đội ngũ giáo viên về hợp tác hiệu quả với phụ huynh.
Nghiên cứu tiên phong của Đại học Harvard về động lực gia đình minh chứng tầm quan trọng thiết yếu của sự phối hợp gia đình trong giáo dục mầm non, góp phần quyết định vào sự phát triển toàn diện của trẻ mọi lứa tuổi. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò then chốt của sự tham gia tích cực của gia đình, thể hiện qua các hoạt động như: tham dự các buổi họp phụ huynh, quan sát lớp học, hỗ trợ trực tiếp hoạt động giảng dạy, và duy trì liên lạc thường xuyên giữa phụ huynh và giáo viên. Những yếu tố này trực tiếp tác động đến chất lượng giáo dục trẻ. Phân tích của các chuyên gia Đại học Harvard chỉ ra rằng tương tác giao tiếp tích cực trong gia đình đóng góp hiệu quả vào việc hình thành và hoàn thiện kỹ năng giao tiếp của trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho thành công nghề nghiệp tương lai.
Kết luận nghiên cứu khẳng định việc thường xuyên trò chuyện, giao tiếp với trẻ 16 là biện pháp hữu hiệu, góp phần phát triển ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp, hoàn toàn phù hợp với nếp sống gia đình Việt Nam hiện đại. Sự tương tác này không chỉ thúc đẩy phát triển ngôn ngữ mà còn tạo dựng mối quan hệ bền chặt giữa các thành viên trong gia đình. Theo tác giả Montessori (1870 – 1952) cho rằng “Khiếm khuyết của tâm trí là vấn đề của giáo dục chứ không phải là vấn đề của y khoa”, đồng thời bà phát hiện, trẻ từ 0 – 6 tuổi, đặc biệt từ 0-3 tuổi rất nhạy cảm cũng là quãng thời gian quan trọng và quý giá nhất trong cuộc đời con người. Sự phát triển và trải nghiệm của trẻ trong giai đoạn này ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống tương lai của trẻ, chúng có thể tiếp nhận thông tin từ môi trường sống xung quanh rất nhanh.
Từ giai đoạn sơ sinh đến 6 tuổi, sự phát triển toàn diện về thể chất, tâm lý và nhận thức xã hội của trẻ phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc chu đáo và đầu tư bài bản. Để đảm bảo sự phát triển hài hòa này, cơ sở giáo dục mầm non cần đáp ứng đầy đủ điều kiện vật chất, trang thiết bị hiện đại, đồng thời sở hữu đội ngũ giáo viên, nhân viên chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm, tận tâm và có khả năng phối hợp hiệu quả với phụ huynh trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Mai (2018), thực hiện tại Đại học Sư phạm Hà Nội, về sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong các trường mầm non Hà Nội, chỉ ra hiệu quả tích cực của mô hình này. Kết quả cho thấy sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình đạt hiệu quả cao hơn so với sự phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng.
Đặc biệt, với xu hướng gia đình ít con và điều kiện kinh tế khá giả, sự quan tâm của phụ huynh đối với việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ngày càng tăng. Tuy nhiên, quá trình này cũng gặp những thuận lợi và khó khăn nhất định, xuất phát từ sự khác biệt về nhận thức, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế của mỗi gia đình. Bên cạnh đó, áp lực công việc và các yếu tố tâm lý xã hội cũng tác động không nhỏ đến tâm lý giáo viên, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Công trình nghiên cứu "Sự phối hợp giữa cha mẹ với giáo viên mầm non trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non có rối loạn phổ tự kỷ" (Nguyễn Thị Kim Anh, 2018), đăng tải trên *Thông tin khoa học giáo dục nhà trường và thực tiễn giáo dục* (tập san của Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP.HCM), khẳng định tầm quan trọng của sự thống nhất môi trường giáo dục và mạng lưới tương tác 17 giữa giáo viên và phụ huynh để tối ưu chất lượng giáo dục mầm non, đáp ứng kỳ vọng của phụ huynh và quyền lợi trẻ, đặc biệt trẻ tự kỷ.
Một công trình khác, "Phối hợp với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non" (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2018), cũng xuất bản trên cùng tạp chí, nhấn mạnh sự phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non. Sự hợp tác này được xem như nguyên tắc nền tảng đảm bảo thành công cho mọi hoạt động giáo dục. Tác phẩm "Sự quan tâm, phối hợp của gia đình và xã hội với giáo viên mầm non trong chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non đặc biệt trẻ khuyết tật" (Vũ Duy Chinh, 2021), công bố trên trang web của Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang, mở rộng phạm vi hợp tác đến cả cộng đồng. Bài viết nêu bật lợi ích toàn diện từ sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, nhất là trẻ khuyết tật, tất cả hướng đến lợi ích tối đa của trẻ.
Tạp chí Cộng sản số ra ngày 30 tháng 5 năm 2017 đã đăng tải bài viết "Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em" của tác giả Phí Hải Nam, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới. Bài viết nhấn mạnh vai trò cốt yếu của việc nuôi dưỡng trẻ và đề xuất các giải pháp tối ưu hóa sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trong quá trình này. Giai đoạn gần đây, hệ thống giáo dục mầm non Việt Nam nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các cấp quản lý. Không chỉ chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, mà việc chăm sóc sức khỏe toàn diện cho trẻ cũng được đặt lên hàng đầu, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển thể chất và tinh thần tương lai.
Do đó, công tác dinh dưỡng trong trường học được ưu tiên hàng đầu. Các bộ, ngành liên quan, điển hình là Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã triển khai nhiều chương trình hợp tác nhằm xây dựng và ban hành các hướng dẫn cụ thể về quản lý dinh dưỡng trong các cơ sở mầm non, bảo đảm chế độ ăn uống cân bằng, đa dạng và hiệu quả. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động nuôi dưỡng Phân tích chuyên sâu về quản lý hoạt động nuôi dưỡng trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện, phản ánh thực trạng và đề xuất giải pháp tối ưu. Lỗ Thị Thưng (2015) tập trung vào thực trạng quản lý tại các trường mầm non thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng an toàn trong nuôi dưỡng trẻ.
Các biện pháp này bao gồm: tăng cường 18 tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên; cải tiến quản lý hồ sơ, sổ sách và cơ sở vật chất; công khai hóa hoạt động nuôi dưỡng; thường xuyên kiểm tra, giám sát; nâng cao năng lực quản lý định kỳ cho cán bộ quản lý; cập nhật kế hoạch hoạt động; và tối ưu hóa tổ chức hoạt động nuôi dưỡng. Hoàng Thị Nhãn (2021) trong nghiên cứu trên Tạp chí Giáo dục về các trường mầm non công lập Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, nhấn mạnh vai trò then chốt của hoạt động nuôi dưỡng trẻ. Báo cáo chỉ ra những bất cập hiện hữu, chủ yếu do thiếu sự quản lý thống nhất, chặt chẽ từ phía hiệu trưởng. Tác giả đề xuất năm giải pháp toàn diện nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và quản lý nuôi dưỡng, khuyến nghị việc thực hiện đồng bộ các giải pháp để đạt hiệu quả tối đa.
Nghiên cứu của Phan Thị Hoàng Oanh (2023) tập trung vào quản lý hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ tại các trường mầm non công lập huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ba nghiên cứu trên, dù phạm vi khác nhau, đều cho thấy sự cần thiết của việc cải thiện quản lý nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn trong nuôi dưỡng trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non. Tất cả đều góp phần tạo nên bức tranh toàn cảnh về những thách thức và giải pháp trong lĩnh vực quan trọng này.Quản lý hoạt động nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non công lập Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh bước đầu đạt được một số kết quả tốt nhưng vẫn còn những điểm yếu cần khắc phục để được giải quyết. Kế thừa cơ sở lý luận đã phân tích và căn cứ vào thực trạng quản lý hoạt động nuôi dưỡng trẻ, bài viết đề xuất một số giải pháp quản lý việc nuôi dưỡng trẻ Hoạt động chăm sóc tại các trường mầm non công lập huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Các vấn đề đặt ra cần nghiên cứu Qua những kết quả nghiên cứu đã được công bố về nhu cầu DD, chế độ DD, những ảnh hưởng của tâm lý trẻ và chất lượng nuôi dưỡng, chúng ta nhận thấy rằng để nâng cao chất lượng của hoạt động nuôi dưỡng trong trường mầm non thì các nhà trường phải chú ý đến chế độ DD, đáp ứng các chuẩn mực, nhu cầu DD theo từng độ tuổi đã được công bố bởi các tổ chức y tế thế giới, hoạt động quản lý chất lượng nuôi đưỡng trong GDMN cũng cần được quan tâm và trở thành mục tiêu trọng tâm trong mỗi nhà trường. Trong 24h mỗi ngày thì trẻ em ở độ tuổi mầm non ở tại Nhà trường từ 8 đến 10h mỗi ngày.