mở đầu, có diễn biến, kết thúc. Đồng thời, giáo dục cũng được xem là hoạt động bởi có chủ thể và đối tượng cụ thể. Từ đó, ta có thể hiểu: hoạt động giáo dục (HĐGD) là dưới tác động chủ đạo của người thầy (chủ thể), người học (đối tượng) chủ động thực hiện hoạt động nhằm lĩnh hội tri thức khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học và phẩm chất, nhân cách. HĐGD có thể được hiểu theo hàm nghĩa rộng và hàm nghĩa hẹp.
Theo hàm nghĩa rộng: HĐGD bao gồm toàn bộ các tác động giáo dục được định hướng theo mục đích xác định, được tổ chức một cách hợp lý, khoa học nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người. Theo điều 26, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, 12 HĐGD bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp, HĐGD ngoài giờ lên lớp nhằm giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. HĐGD có những đặc trưng chủ yếu, riêng biệt: - HĐGD là một họat động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch hợp lý, khoa học hướng vào việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người theo những mục đích và điều kiện do xã hội quy định ở những giai đoạn lịch sử nhất định. - HĐGD luôn có sự tương tác và phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa hoạt động của nhà giáo dục (người dạy) và họat động của người được giáo dục (người học), trong đó nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo và người được giáo dục là chủ thể hoạt động độc lập sáng tạo.
Mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục trong HĐGD là một mối quan hệ xã hội đặc biệt – quan hệ giáo dục. - HĐGD là một dạng vận động và phát triển liên tục của các hiện tượng, các tình huống dạy học và giáo dục, các loại hình hoạt động, giao lưu của người được giáo dục… được nhà giáo dục tổ chức, hướng dẫn thực hiện theo các quy trình nhất định. Các họat động này phản ánh những quy luật chung của họat động giáo dục tổng thể, nhưng chúng cũng phản ánh các quy luật đặc thù riêng của từng họat động cụ thể. - HĐGD có mối quan hệ chặt chẽ với các họat động xã hội khác… HĐGD tổng thể là một hệ thống lớn (vĩ mô) bao gồm những hệ thống nhỏ (vi mô) là những HĐGD bộ phận: họat động dạy học và HĐGD (theo nghĩa hẹp).
Những họat động bộ phận này thống nhất với nhau, có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ nhau và có thể thâm nhập vào nhau, nhưng chúng không đồng nhất mà có tính độc lập tương đối. Họat động dạy học với chức năng trội là trau dồi học vấn, truyền thụ và lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nhận thức và thực hành cho người học. 13 HĐGD (theo hàm nghĩa hẹp) với chức năng trội là hình thành, phát triển thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức, pháp luật, lao động, thẩm mỹ, thái độ, tính cách, thói quen… cho người được giáo dục. Hai họat động này gắn bó chặt chẽ với nhau: dạy học phải đi đến giáo dục và giáo dục dựa trên cơ sở dạy học, thúc đẩy dạy học.
Sau đây là sơ đồ về cấu trúc tổng thể của họat động giáo dục: Sơ đồ 1.1: Cấu trúc tổng thể của hoạt động giáo dục HĐGD tổng thể cũng như mỗi HĐGD bộ phận đều là các hệ thống và được tạo thành bởi các nhân tố sau: - Chủ thể giáo dục: Nhà giáo dục là chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong HĐGD. Chủ thể giáo dục cũng chính là người được giáo dục. - Khách thể giáo dục: Người được giáo dục vừa là đối tượng giáo dục vừa là chủ thể tự giáo dục. - Mục đích, nhiệm vụ giáo dục là mẫu nhân cách con người mà giáo dục cần đào tạo đáp ứng yêu cầu của xã hội trong từng giai đọan phát triển của xã hội.
Đây là nhân tố hàng đầu của HĐGD định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ HĐGD. Để thực hiện tốt mục đích này, giáo dục phải thực hiện các nhiệm vụ giáo dục: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động. Các nhiệm vụ giáo dục có mối quan hệ biện chứng với nhau. - Nội dung giáo dục là hệ thống những kinh nghiệm xã hội được chọn lọc trong kho tàng kinh nghiệm của nhân loại, tạo nên nội dung hoạt động thống nhất cho nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm đạt được mục đích giáo dục đã định.
14 - Phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục là cách thức, phương tiện, hình thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm thực hiện những nhiệm vụ giáo dục và đạt tới mục đích giáo dục đã định. - Kết quả giáo dục là kết quả tổng hợp của toàn bộ HĐGD nhưng thể hiện tập trung nhất ở mức độ phát triển nhân cách của người được giáo dục sau mỗi HĐGD nhất định. - Tham gia vào HĐGD còn có những điều kiện giáo dục bên ngoài (môi trường xã hội), những điều kiện bên trong (môi trường sư phạm). Những nhân tố của HĐGD có mối quan hệ thống nhất, tác động biện chứng với nhau đồng thời những nhân tố này còn có mối quan hệ mật thiết, biện chứng với môi trường bên ngoài và môi trường bên trong.
Khi một nhân tố thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các nhân tố khác. Theo hàm nghĩa hẹp: HĐGD là một bộ phận của HĐGD tổng thể (HĐGD theo hàm nghĩa rộng), là HĐGD nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa này HĐGD gồm giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục đạo đức, giáo dục lao động. Hoạt động này được thường được thực hiện thông qua: hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh); hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục; hoạt động giáo dục hướng nghiệp (cấp THCS và cấp THPT) giúp HS tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp; hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp THPT) giúp HS hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành và phát triển kỹ năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn; có một số kỹ năng sử dụng công cụ, thực hành kỹ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm đơn giản.
15 Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về hoạt động GDPL cho HS trường THPT, tác giả đề cập đến HĐGD với hàm nghĩa hẹp: HĐGD với chức năng hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức, pháp luật, lao động, thẩm mỹ, thái độ, tính cách, thói quen… cho người học. Khái niệm pháp luật Về mặt thuật ngữ: pháp luật, theo nghĩa Hán - Việt thì chữ "pháp" gồm chữ "nước" và chữ "khứ" ghép lại và được hiểu như đạo pháp trừ tà, chữ “luật”, gồm chữ "xích" và chữ "luật" có nghĩa là những điều viết ra để điều hành xã hội. Bàn về “pháp luật” có nhiều ý kiến của các nhà khoa học đứng ở các góc độ khoa học khác nhau đưa ra. Theo Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước” [30]. Quan niệm pháp luật là công cụ đảm bảo an toàn, trật tự xã hội cho con người: "Pháp luật của nhà nước có mục đích bảo vệ an toàn, thuận lợi cho con người: pháp luật là "một tập hợp các quy phạm, do nhà nước tạo lập, có giá trị ràng buộc trong một phạm vi lãnh thổ và được đảm bảo thực thi bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế và chế tài. pháp luật được sinh ra là để "tổ chức, thúc đẩy sự an toàn và thuận tiện cho các thành viên của cộng đồng xã hội và để điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên này với nhau. Tác giả Hoàng Thị Kim Quế, định nghĩa: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, được nhà nước đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục đích bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và sự phát thể cơ bền vững của xã hội”[24].
Những ý kiến trên cho thấy: có những cách hiểu khác nhau từ các góc độ tiếp cận khác nhau đối với khái niệm pháp luật. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, 16 chúng tôi thống nhất theo cách hiểu: Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Pháp luật là một hiện tượng xã hội rất gần gũi và cấp thiết trong cuộc sống của mỗi con người. Xã hội càng hiện đại thì yêu cầu về hiểu biết và thực hiện pháp luật ngày càng cao, bởi lẽ pháp luật không chỉ là phương tiện để Nhà nước quản lý các mặt của đời sống xã hội mà còn là phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân.
Vì thế, hiểu biết về pháp luật là vô cùng quan trọng đối với tất cả công dân và nó cần được hình thành ngay từ những người trẻ tuổi.