phần Mở đầu; Kết luận, khuyến nghị; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục năng lực hợp tác cho học sinh ở trƣờng tiểu học đáp ứng chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục năng lực hợp tác cho học sinh ở các trƣờng tiểu học huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đáp ứng chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 Chƣơng 3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục năng lực hợp tác cho học sinh ở các trƣờng tiểu học huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đáp ứng chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục năng lực hợp tác cho học sinh Dạy học hợp tác là một biện pháp phát triển năng lực hợp tác tích cực nhằm phát huy khả năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh. Dạy học hợp tác không phải là vấn đề mới.
Các nhà nghiên cứu giáo dục đã đề cập đến vấn đề này trong nhiều công trình. Đã có những thời kì học hợp tác đƣợc ủng hộ mạnh mẽ và đƣợc áp dụng rộng rãi nhằm thúc đẩy các mục đích giáo dục trong các thời kỳ đó. Ngay từ thế kỉ XVIII, E.Cohen đã dựa trên những lý thuyết, những phát biểu mong đợi W.Glasser đã nghiên cứu thúc đẩy việc sử dụng các mối quan hệ hợp tác giữa học sinh với nhau để xây dựng phƣơng pháp học tập hợp tác. Khoảng cuối thế kỷ XIX ở Mỹ đã đề cao học tập hợp tác, điển hình có Fancis Parker, hiệu trƣởng một trƣờng công ở bang Massachusetts đã đƣa ra các quan niệm nhằm biện hộ cho lý thuyết học tập hợp tác, phản đối kiểu học tập cạnh tranh mang màu sắc của xã hội tƣ bản.
Theo Fancis Parker nếu quá trình học tập đƣợc thực hiện trên tinh thần chia sẻ nhóm, lớp với tình cảm và trí tuệ thì việc học sẽ không bào giờ bị nhàm chán; niềm vui lớn nhất của học sinh là cùng nhau chia sẻ thành quả học tập với các bạn trong tƣơng tác học tập với tinh thần giúp đỡ lẫn nhau [18]. Vào những năm 1980 trở lại đây, việc nghiên cứu về dạy học hợp tác đã đƣợc tiếp tục đẩy mạnh ở các nƣớc Tây Âu. Các nghiên cứu này hƣớng vào xây dựng mô hình và chiến lƣợc dạy học theo nhóm hợp tác một cách có hiệu quả. Chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ Brow và Palincsar năm 1989, Rosenshine, Meister năm 1994, Slavin năm 1990 và Renkl 6 năm 1995.
Các ông cho rằng dạy học hợp tác tạo lập và cải thiện những mối quan hệ xã hội thành viên, với những đặc thù xã hội và phẩm chất cá nhân (dẫn theo [13]). Các tác giả Palincsar và Brown xây dựng và phát triển phƣơng pháp dạy lẫn nhau. Theo phƣơng pháp này, học sinh và giáo viên thay phiên nhau đóng vai trò ngƣời dạy sau khi cùng nghiên cứu tài liệu học tập. Giáo viên làm mẫu đƣa ra cách thức và các vấn đề, đặt các câu hỏi, cách tóm tắt, cách phân tích làm sáng tỏ vấn đề… Học sinh học cách làm của giáo viên và áp dụng vào trong nhóm học tập của mình.
Các thành viên khác của nhóm tham gia thảo luận nêu ra các câu hỏi, trả lời, bình luận, tìm kiếm những từ ngữ chính xác, thích hợp, khái quát và rút ra những kết luận. Vai trò của từng thành viên đƣợc luân phiên thay đổi [27]. Ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa, tập thể luôn đƣợc xem là môi trƣờng để thực hiện mục tiêu giáo dục con ngƣời và phát triển toàn diện.Mác đã khẳng định: “Chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có đƣợc những phƣơng tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó chỉ có cộng đồng mới có tự do cá nhân” [5], [6]. Angela Hennessey and Rylee A.
Dionigi (2013) [26] nêu bật những thách thức mà giáo viên phải đối mặt khi cố gắng thực hiện một phƣơng pháp giảng dạy để phát huy NLHT của HS tiểu học. Đặc biệt rào cản tâm lý khi đánh giá học sinh nhƣ: cho rằng học sinh tiểu học còn quá nhỏ để có thể thực hiện phƣơng pháp học tập hợp tác. Nghiên cứu đề xuất biện pháp trong việc hỗ trợ học sinh phát triển năng lực học tập hợp tác. Cụ thể: Giáo viên cần có sự chuẩn bị về phƣơng pháp để tổ chức cho học sinh phát triển năng lực hợp tác của bản thân.
Slavin (2014) với nghiên cứu “Cooperative Learning in Elementary Schools” [30] nhận định: Học tập hợp tác có tiềm năng trở thành một hình thức chính đƣợc giáo viên sử dụng để đạt đƣợc cả mục tiêu truyền thống và đổi mới. Nghiên cứu phải tiếp tục cung cấp nền tảng thực tiễn, lý thuyết và trí tuệ để cho phép các nhà giáo dục đạt đƣợc tiềm năng này. 7 Marcel Bassachs, Dolors Cañabate, Teresa Serra and Jordi Colomer (2020), [29] chứng minh các phƣơng pháp giáo dục liên môn có thể giúp nâng cao kiến thức và năng lực cho học sinh tiểu học. Phƣơng pháp can thiệp đƣợc sử dụng nhƣ là một phƣơng pháp giáo dục thông qua các hoạt động thể chất và dựa trên việc phát triển các môi trƣờng học tập hợp tác và sự năng động để tăng cƣờng mối quan hệ dạy - học.
Ở Việt Nam với truyền thống hiếu học và đoàn kết dân tộc, tinh thần học tập hợp tác truyền thụ tri thức, kinh nghiệm của ngƣời đi trƣớc cho thế hệ sau đã thể hiện bằng nhiều hình thức linh hoạt và sau này phát triển thành các phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, học cùng nhau, học bạn, học nhóm. Những năm 1960 chiến tranh diễn ra ác liệt nhƣng việc nghiên cứu khoa học, giáo dục vẫn đƣợc quan tâm nhằm tìm ra các giải pháp phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh. Tuy nhiên, những chuyển biến trong giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế. Phải tới những năm cuối của thế kỉ XX, định hƣớng này mới thực sự có chuyển biến rõ rệt.
Nhiều tài liệu giáo dục và dạy học đề cập tới việc chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Một trong những phƣơng pháp đƣợc xếp vào các biện pháp phát triển năng lực hợp tác theo hƣớng lấy học sinh làm trung tâm có hiệu quả đó là biện pháp phát triển năng lực học hợp tác. Bài viết “Một số vấn đề cơ sở lí luận học hợp tác nhóm” của tác giả Lê Văn Tạc đăng trên Tạp chí Giáo dục số 81 năm 2004 đã đề cập đến khái niêm dạy học hợp tác, cơ sở lý luận dạy học hợp tác cũng nhƣ các bƣớc thực hiện học hợp tác nhóm trong quá trình dạy học [22]. Theo Nguyễn Hữu Châu, trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học” [9] đã đề cập đến dạy học hợp tác nhƣ là một quan điểm dạy học mới.
Theo ông, dạy học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân cũng nhƣ của ngƣời khác. Ông đã nhấn mạnh đến vai trò to lớn của dạy học 8 hợp tác: “Không chỉ đơn thuần là một cách thức giảng dạy mà là còn là sự thay đổi về cấu trúc tổ chức ảnh hưởng tới mọi khía cạnh đời sống học đường”. Tác giả Trần Bá Hoành, trong cuốn sách “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” gồm tập hợp 26 bài viết đề cập đến những vấn đề phục vụ công cuộc đổi mới PPDH đang diễn ra sôi nổi tại các trƣờng học đó là dạy học lấy HS làm trung tâm, phát triển các phƣơng pháp tích cực, tăng cƣờng phƣơng pháp học tập, tự học. Trong cuốn sách này tác giả cũng đã chỉ rõ DHHT là một trong những chiến lƣợc dạy học hƣớng về ngƣời học, phát huy có hiệu quả tính tích cực, sáng tạo của ngƣời học [15].
Tác giả Thái Duy Tuyên đã nghiên cứu vấn đề về phƣơng pháp dạy học, trong cuốn sách “Biện pháp phát triển năng lực hợp tác truyền thống và đổi mới” [23]. Trên cơ sở khái quát về bản chất, đặc điểm, ý nghĩa của dạy học hợp tác, ông đã đề xuất nguyên tắc hợp tác dạy học theo phƣơng pháp DHHT. Trong cuốn “Sách trợ giúp giảng viên cao đẳng sƣ phạm” của tập thể tác giả Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Văn Cƣờng, Trần Bá Hoành, Nguyễn Bá Kim, Lâm Quang Thiệp thuộc dự án đào tạo giáo viên THCS cũng đề cập đến dạy học hợp tác. Đây là cuốn sách trợ giúp thƣờng xuyên về mặt PPDH cho giảng viên các trƣờng cao đẳng sƣ phạm, giúp họ bồi dƣỡng chuyên môn, tiếp cận các PPDH hiện đại trong đó có vấn đề DHHT nhóm [7].
Tác giả Trịnh Văn Biểu có bài viết “Dạy học hợp tác - một xu hướng mới của giáo dục thế kỉ XXI” đăng trên tạp chí Khoa học số 25 năm 2011, Đại học Sƣ phạm TP. Tác giả đã giúp cho bạn đọc có cái nhìn tổng quát về cả quá trình hình thành và phát triển của PPDH hợp tác trên thế giới với những tên tuổi gắn liền nhƣ: John Dewey; Kurt Lewin; Elliot Aronson; anh em nhà Johnson… Bài viết đã nêu những đặc trƣng, ƣu điểm và hạn chế của DHHT, đồng thời cung cấp những kinh nghiệm sử dụng phƣơng pháp này, giúp chúng ta áp dụng vào dạy học đạt hiệu quả. Cũng nghiên cứu về phát triển năng lực hợp tác qua các hoạt động trải nghiệm, Nguyễn Thị Quỳnh Phƣơng (2012) [19] đã nghiên cứu tổ chức rèn 9 luyện kỹ năng hợp tác cho SV sƣ phạm qua 3 giai đoạn: Cung cấp kiến thức, giáo dục nhu cầu, tính tích cực rèn luyện của SV; Tổ chức rèn luyện kỹ năng hợp tác cho SV sƣ phạm trong hoạt động nhóm; Kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện kỹ năng hợp tác cho SV sƣ phạm trong hoạt động nhóm. Trong mỗi giai đoạn cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp rèn luyện kỹ năng hợp tác.
Kết quả thực nghiệm khẳng định các biện pháp rèn luyện đƣợc tổ chức trong các giờ lý thuyết, thảo luận, thực hành và giờ tự học đúng bản chất hợp tác và tạo ra sự phụ thuộc tích cực và tƣơng tác trên tinh thần phát huy cao độ trách nhiệm của cá nhân trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập.