Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu của một số nước trên thế giới Công tác GDHN cho HS hầu hết tất cả các nước trên thế giới đều thực hiện và mỗi nước có cách tổ chức khác nhau. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về HN và GDHN ở các nước cụ thể như: Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên.
Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp [12].Krupskaia có nhiều bài viết khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp [01]. Ở Nga, những thập kỷ đầu thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp rất được chú trọng, làm cơ sở để phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền công nghiệp hóa đất nước lúc bấy giờ. Suốt thế kỷ XX và đầu thập kỷ thế kỷ XXI, tư vấn và hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáo dục. Ngoài bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia, giáo dục hướng nghiệp ở các nước đều xuất hiện các vấn đề chung cả lý luận và thực tiễn cần làm rõ nhằm tìm ra con đường khả thi và hiệu quả cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu về hướng nghiệp và GDHN cấp trung học nhiều tác giả khẳng định: Quản lý GDHN là một nội dung quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản e 6 lý GDHN để đạt mục đích GDHN. Nội dung quản lý GDHN là xây dựng kế hoạch, chương trình HĐ GDHN bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình HĐ GDHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ HĐ GDHN. Giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường bước vào cuộc sống lao động thực sự. Hướng nghiệp tạo điều kiện cho HS lựa chọn một trong nhiều con đường khác nhau.
Các hệ thống giáo dục cần phải được thiết kế linh hoạt để tính đến sự khác biệt cá nhân trong việc tổ chức các mô hình học tập, tạo cầu nối cho những người bị gián đoạn học tập có thể trở lại học theo hình thức chính quy. Việc lựa chọn con đường riêng biệt của GDNN hay giáo dục phổ thông cần phải dựa trên những đánh giá thận trọng về điểm mạnh và điểm yếu của HS. Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp HS lựa chọn khóa học thích hợp (có tính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết.
Các điểm chung: Các nước Châu Âu có sự phát triển mạnh về khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế. Để phù hợp với xu thế phát triển, nền giáo dục ở Châu Âu đặc biệt quan tâm đến trình độ giáo dục phổ thông, giáo dục nghề và được gắn kết giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề và hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông. Các nước đều chú trọng đến giáo dục “tiền nghề nghiệp” cho HS ngay ở bậc học phổ thông; PLHS sớm ngay từ lớp 9 hoặc lớp 10, chủ yếu 2 nhánh học nghề và lên THPT (như ở Ba Lan, Cộng hòa Pháp); ở Đức hướng nghiệp cho HS phổ thông sớm hơn ngay ở bậc tiểu học. Trong giáo dục phổ thông và GDHN, các nước đều giảm thời lượng e 7 hàn lâm mà chú trọng tính thực tiễn nhiều hơn (Ba Lan, Đức và Pháp).
Các điểm riêng: Ở Pháp phân hóa hẹp sau trung học cao trung, phân hóa cấp 2,3 theo hướng phân ban, phân chia 50/50 theo luồng phổ thông và kỹ thuật, nghề kỹ thuật dạy theo mô đun gồm 6 lĩnh vực như: Kỹ thuật nghề, Toán, Khoa học, Thế giới, Quốc ngữ, Ngoại ngữ; Ở Đức, các nhà sư phạm quan tâm đến cơ sở khoa học dạy học lao động nghề nghiệp, phối hợp giữa trường phổ thông và các trung tâm kỹ thuật tổng hợp để lập kế hoạch thực tập cho HS, xác lập mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp và phân loại học sinh hướng nghiệp ngay sau bậc tiểu học, sau lớp 10 HS được chia 02 nhánh loại học trở thành công nhân lành nghề, loại học hết lớp 12 phổ thông, sau lớp 12 lại được tiếp tục phân loại lần nữa hoặc vào đại học hoặc vào trung cấp nghề. Liên bang Nga đưa nội dung đào tạo miễn phí sơ cấp nghề vào giáo dục trung học (3 năm), đề cập đến liên thông trong giáo dục nghề nghiệp (sơ cấp, trung cấp và đại học), chú trọng đến giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp. Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông, các môn văn hóa, khoa học kỹ thuật, lao động (Trung Quốc, Philippine); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong HĐ GDHN (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn). Ngày nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò đối với sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia.
Nhờ có sự đầu tư và phát triển cho nguồn nhân lực mà một số nước chỉ trong thời gian ngắn đã e 8 nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,… GD&ĐT, trong đó có phần GDNN góp phần hết sức to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Các cơ sở GDNN đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp một lực lượng lao động đông đảo đã qua đào tạo, góp phần làm cho cơ cấu lao động xã hội, cả về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền phù hợp với từng giai đoạn phát triển KT-XH của đất nước. Tại các nước phát triển, coi trọng lực lượng lao động là “lao động tri thức”, trước đây kỹ năng nghề có thể giúp con người đi theo suốt cuộc đời, nhưng thời đại ngày nay, luôn phải cập nhật tri thức, kiến thức mới đáp ứng yêu cầu xã hội. Giáo dục thường xuyên, GDHN có vai trò quan trọng giúp con người có điều kiện hướng đến đào tạo lao động tri thức và tự đào tạo suốt đời.
Nhà trường phải thay khẩu hiệu “Đào tạo một lần cho một đời người” bằng khẩu hiệu “Đào tạo suốt đời cho một đời người” [06]. Các điểm riêng: GDHN thông qua chương trình kỹ năng sống, giáo dục nghề bao gồm các chủ đề: kế hoạch nghề, tìm việc, thiết lập mục tiêu nghề (Hồng kong); giảng dạy tích hợp các môn khoa học công nghệ vào THPT, sau THCS, nhánh giáo dục nghề nghiệp có 02 năm học nghề, 02 năm sau chọn nghề nhất định (Philippine). Sau THCS học sinh được phân chia 03 hướng chính: Nhóm giáo dục kỹ thuật công nghệ cơ khí dân dụng; nhóm giáo dục phổ thông dạy các môn văn hóa; nhóm giáo dục nghề nghiệp giảng dạy lý thuyết, thực hành nghề cơ khí, ô tô, hàn, điện, điện tử. Quan tâm đến mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề, trong đó chú trọng giáo dục nghề là hướng chọn cơ bản (Nhật Bản).
Sau THCS, tập trung cho kỹ năng thực hành nghề, trong giáo dục nghề nghiệp thời lượng dành cho thực hành chiếm 70% (Hàn Quốc). THCS có nhánh dạy nghề từ 2-3 năm, dạy tích hợp ở bậc THPT (văn hóa, khoa học kỹ thuật, lao động), rất chú trọng các môn tự chọn: máy tính, kỹ thuật điện, hải dương học, e 9 y học cơ sở, ngoại ngữ. Đây là cơ sở làm tiền đề cho việc chọn nghề tương lai (Trung Quốc). Theo Tổ chức giáo dục, Văn hóa và Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO): Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục của UNESCO, Jacques Delors khi phân tích những trụ cột của giáo dục toàn cầu đã viết: “Học để biết, học để làm việc, học để làm người, và học để chung sống với nhau”.
Kết quả của giáo dục phải được thể hiện rõ ở thế hệ trẻ năng lực “sống - làm việc - phát triển”. Theo tác giả vấn đề học nghề phổ thông là một căn bản không thể thiếu được. Tác giả đã nhấn mạnh: HS sẽ có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học, hỗ trợ cho việc học. Quan điểm của UNESCO coi học tập là một quá trình liên tục, kéo dài suốt cả cuộc đời, khiến chúng ta xét lại cả nội dung và cách tổ chức giáo dục trung học.
Đòi hỏi của thị trường lao động tạo ra áp lực dẫn đến số năm học có xu hướng tăng lên. Trên toàn thế giới, nếu xét về tỷ lệ HS đến trường, thì số lượng HS trung học có số lượng tăng nhanh nhất trong hệ thống giáo dục chính quy. Nhìn chung, xu thế hiện tại của giáo dục phổ thông và giáo dục nói chung trên thế giới là dạy nghề, bao gồm cả giáo dục tiền nghề nghiệp ở trường phổ thông với tính chất đặc biệt quan trọng đó là cách diễn đạt khác nhau, nhưng chung quy lại đều thống nhất ở chỗ: giáo dục lao động gắng liền với giáo dục công nghệ và GDHN. Như vậy, nhà trường đã thực hiện những chức năng và trách nhiệm của giáo dục, bởi vì một nền giáo dục hiệu quả phải là nền giáo dục được tiến hành dựa trên sự chia sẻ trách nhiệm từ ba phía: nhà trường, gia đình, xã hội.
Do đó, trọng tâm kế hoạch giáo dục của các nước trên thế giới là phải có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng, các bên phải có trách nhiệm trong giáo dục. Giáo dục phải coi trọng hiệu quả, phải đào tạo, bồi dưỡng, phát triển những nhân tài, những người lao động, có trình độ chuyên môn thích ứng và đảm nhận được mọi công việc trong xã hội, e 10 tạo điều kiện để họ có thể phục vụ cho xã hội một cách sớm nhất.