Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NĂM 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp tác giả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.
L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp ở các nước công nghiệp [22]. Song có thể coi cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1949 ở Pháp được xem là cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi GDHN (GDHN) là một vấn đề cấp thiết khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển [22]. Các nghiên cứu gần đây của Mei Tang, Wei Pan và Mark D.
Newmeyer đã áp dụng mô hình lý thuyết phát triển xã hội nghề nghiệp để khảo sát các yếu tác động đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trung học. Những phát hiện của nghiên cứu này đã chứng minh tầm quan trọng của các yếu tố: kinh nghiệm học tập, tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, lợi ích, và kết quả mong đợi trong quá trình phát triển nghề nghiệp của học sinh trung học [21]. Mối quan hệ của các yếu tố này là động, vì vậy, để can thiệp thành công cần phải xem xét mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố và kết hợp một loạt các biện pháp can thiệp ở mức độ đa hệ thống. Các nhà tư vấn nên góp phần vào sự phát triển và thực hiện một chương trình phát triển nghề nghiệp toàn diện giúp học sinh phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua hoạt động học tập thiết thực.
6 c Nghiên cứu của Bromley H.Kniveton, trên cơ sở khảo sát 384 thanh thiếu niên (trong đó có 174 nam và 174 nữ) từ 14 đến 18 tuổi đã đã đưa ra kết luận: Cả nhà trường và gia đình đều có thể cung cấp những thông tin và hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên. Giáo viên có thể xác định những năng khiếu và khả năng qua đó khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động ngoại khoá, tham gia lao động hướng nghiệp hoặc tham quan những cơ sở sản xuất. Phụ huynh học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp những hỗ trợ thích hợp nhất định cho sự lựa chọn nghề nghiệp, ngoài ra còn có sự tác động của anh chị em trong gia đình, bạn bè… [17]. Michael Borchert, trên cơ sở khảo sát 325 học sinh trung học của trường Trung học Germantown, bang Wisconsin đã đưa ra nhận xét: trong ba nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp là: Môi trường, cơ hội và đặc điểm cá nhân thì nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự chọn lựa nghề nghiệp của học sinh trung học.
Burns và các cộng sự đã cho rằng mức độ nổi tiếng và uy tín của trường, đội ngũ giáo viên danh tiếng cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh, “tỷ lệ chọi” đầu vào, điểm chuẩn của trường là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh. Ngoài mong đợi về học tập trong tương lai thì mong đợi về công việc trong tương lai cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh. Washburn và các cộng sự còn cho rằng sự sẵn sàng của bản thân cho công việc và cơ hội kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh [24]. Chapman, trong việc chọn trường, các học sinh bị tác động mạnh mẽ bởi sự thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình.
Bên cạnh đó, Hossler và Gallagher còn cho rằng các cá nhân tại trường học cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định chọn trường của học sinh [24]. Những nghiên cứu ở trong nước 7 c Trong chương trình GDPT hiện hành, ở bậc THCS các hoạt động GDHN được coi là một hoạt động giáo dục bắt buộc, được thực hiện thống nhất trên toàn quốc. Tuy nhiên, do thời lượng hạn chế và chưa thể hiện rõ tích hợp vào các môn học khác, trừ môn dạy nghề và hoạt động GDHN như là hoạt động ngoại khóa. Từ những năm 1975 - 1990, một số nhà nghiên cứu như Phạm Tất Dong, Quang Dương, Nguyễn Văn Hộ,… đã đề cập đến nhiều khía cạnh trong hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông, trong đó đã đề cập cần GDHN ngay từ bậc THCS.
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống GDHN cho học sinh Việt Nam” [12]. Tác giả đã xây dựng luận chứng cho hệ thống GDHN trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông. Một số công trình nghiên cứu gần đây hơn về công tác GDHN ở cấp Bộ: Đề tài cấp Bộ năm 2005: “Những giải pháp triển khai thực hiện tổ chức GDHN cho học sinh trung học phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền thuộc Đại học sư phạm Thái Nguyên; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2009: “Tham vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông -Thực trạng ở Việt nam và kinh nghiệm Quốc tế” do Lê Thị Thanh Hương làm chủ nhiệm. Theo tác giả Phạm Tất Dong, đa số thanh niên không kiếm được việc làm là do không biết nghề (67,4%) [7] và nhấn mạnh: “Chú trọng hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự họ tìm ra việc làm”, đồng thời: “tiếp sau quá trình hướng nghiệp dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh sau THCS.
Đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản” [6]. Sách chuyên khảo “Tổ chức hoạt động GDHN trong trường phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên [14]. *Những nghiên cứu về quản lý GDHN 8 c Từ sau năm 2005, hoạt động GDHN được quan tâm nhiều hơn và đã có nhiều luận văn sau đại học chọn làm đề tài nghiên cứu. Có thể kể đến: Tác giả Huỳnh Thị Tam Thanh (2003), Quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh bậc trung học tại các trung tâm GDTX trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: Thực trạng và giải pháp (dẫn theo [24]).
Đề tài này đã xác định được các đầu việc quản lý của lãnh đạo các nhà trường trong công tác quản lý GDHN và đưa ra những biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác này. Tuy nhiên, đề tài còn chưa xây dựng được một cơ sở lý luận hoàn chỉnh làm nền tảng cho việc giải quyết phần nội dung. Tác giả Nguyễn Hữu Thiện (2004), Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động hường nghiệp cho học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp [23]. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh chưa đạt hiệu quả cao trên cơ sở phân tích các thực trạng về sự thiếu thông tin, sự thiếu hiểu biết của học sinh về các ngành, nghề trong xã hội dẫn đến việc chọn nghề nghiệp tương lai của các em học sinh không phù hợp, các hình thức GDHN trong nhà trường THPT còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh, đề tài chưa đề cập đến sự lãnh đạo phối hợp giáo dục của nhà trường - gia đình - xã hội trong hoạt động GDHN cho học sinh. Vì hoạt động GDHN trong nhà trường phổ thông là một bộ phận của hoạt động GDHN của toàn xã hội. Gia đình lại là cái nôi đầu đời có ảnh hưởng lớn tới sự chọn lựa nghề nghiệp tương lai của học sinh. Ở đây đề tài chưa đề cập đến nhiệm vụ của CMHS trong việc GDHN và chưa có sự phối hợp giáo dục của nhà trường với gia đình để GDHN cho các em.
Phan Ngọc Hà (2009), Thực trạng quản lý hoạt động GDHN của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ hiện nay [10]. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý hoạt động GDHN của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay chưa đạt hiệu quả cao trên cơ sở phân tích các thực trạng về sự thiếu thông tin, 9 c sự thiếu hiểu biết của học sinh về các ngành, nghề trong xã hội dẫn đến việc chọn nghề nghiệp tương lai của các em học sinh không phù hợp, các hoạt động GDHN trong nhà trường THPT còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, đề tài chưa chú ý phân tích đánh giá quản lý theo mối quan hệ chức năng quản lý với kết quả quản lý. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2011), Thực trạng quản lý hoạt động GDHN ở các trường THPT Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh [24].
Tác giả đã nêu nội dung chính về quản lý hoạt động hướng nghiệp đó là: Xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN; Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN; kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN; đảm bảo các điều kiện cho hoạt động GDHN, trên cơ sở phân tích thực trạng tại địa bàn, tác giả đưa ra 07 giải pháp quan trọng giải quyết. Nguyễn Quốc Thanh Long (2012), Thực trạng quản lý hoạt động GDHN của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Bình Chánh [17]. Tác giả đã khái quát được lý luận về hoạt động GDHN trong trường THPT, quản lý hoạt động GDHN trong trường THPT với nội dung về: Thành lập Ban hướng nghiệp và xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể các thành viên Ban hướng nghiệp; Phân công trách nhiệm hướng nghiệp trong nhà trường; Kế hoạch hoạt động GDHN, Tổ chức hoạt động GDHN; Chỉ đạo thực hiện hoạt động GDHN; Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN; kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN; tổng kết hoạt động GDHN.