Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 1. Một số vấn đề chung về quản lý dạy học tích hợp ở trường trung học cơ sở 1. Khái niệm dạy học tích hợp Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, với nghĩa xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Trong tiếng Việt, tích hợp được ghép từ hai từ tích và hợp.
Tích: (danh từ) là kết quả của phép nhân; (động từ): dồn góp từng ít cho thành số lượng đáng kể (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học; Hợp:(danh từ): tập hợp mọi phần tử của các tập hợp khác; (động từ): gộp chung; (tính từ): không mâu thuẫn, đúng với đòi hỏi. Tích hợp: lắp ráp, kết nối các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ [43]. Như vậy, tích hợp là sự hợp nhất,nối kết các thành phần của một bộ phận. Đó là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy.
Tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau và quy định lẫn nhau, đó là tính chất liên kết, tính chất toàn vẹn. Khái niệm dạy học tích hợp: - DHTQĐTH có nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng một môn học [37]. - Tích hợp là nguyên lý không bàn cãi bởi tất cả tri thức của chúng ta đều là tích hợp, không có ai chỉ tư duy bằng môn này hoặc môn kia, bởi khi giải quyết một vấn đề thực tiễn phải sử dụng tri thức của nhiều môn học khác nhau. Con người cần tri thức thì giáo dục.
DHTQĐTH sẽ đòi hỏi HS học tập thông minh và giúp vận dụng kiến thức, kĩ năng và phương pháp một cách toàn diện, hài hòa, sáng tạo và hợp línhằm giải quyết những tình huống mới khác nhau trên giảng đường cũng như trong cuộc sống [29]. Trong DHTQĐTH, HS dưới sự hướng dẫn của GV thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của môn học này sang ngôn ngữ của môn học khác. HS học 12 cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những thao tác để giải quyết một tình huống phức tạp - thường là gắn với thực tiễn. Chính nhờ quá trình đó, HS nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển năng lực và các phẩm chất cá nhân.
Như vậy, DHTQĐTH là sự kết hợp những vấn đề, nội dung của nhiều phần, nhiều môn học khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học, trong đó những nội dung khoa học được đề cập theo một tinh thần và phương pháp thống nhất. Mức độ tích hợp có thể khác nhau tùy theo mục tiêu dạy học. Mức độ tích hợp cao nhất là xây dựng các chủ đề thống nhất chung cho các môn học thuộc lĩnh vực Khoa học Tự nhiên hoặc Khoa học Xã hội. Ở mức độ thấp hơn, có thể áp dụng tích hợp một phần như Vật lí-Hóa học, Hóa học-Sinh học… 1.
Quản lý hoạt động dạy học Hoạt động dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS [32]. Trong đó, dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của GV có vai trò chủ đạo, hoạt động học của HS có vai trò tự giác, chủ động, tích cực. Nếu thiếu một trong hai hoạt động trên, quá trình dạy học không diễn ra.
Hoạt động dạy học gồm 3 bước: Bước 1: Thực hiện chương trình dạy học (việc nắm vững chương trình dạy học là một tiền đề đảm bảo hiệu quả quản lí dạy và học). Bước 2: Soạn bài, chuẩn bị lên lớp (yêu GV phải nắm vững nội dung - phương pháp giảng dạy cho HS). Bước 3: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS (để biết được mức độ lĩnh hội tri thức của HS). Hoạt động dạy học là hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học.
GV xây dựng, thiết kế hoạt động dạy học một cách đầy đủ và cụ thể bao nhiêu thì công việc dạy học càng hiệu quả bấy nhiêu [34]. Hoạt động dạy học ở đây được xem xét trong mối tương quan giữa hoạt động của người dạy - người lớn, và “hoạt động của trẻ” - người học. Trong tương quan giữa hoạt động của người dạy và hoạt động của người học, hoạt động dạy học của người thầy hướng về mục tiêu của hoạt động dạy học”… hoạt động dạy và học là nhằm hình thành và phát triển nhân cách ở người học [32] 13 Tóm lại, có thể hiểu hoạt động dạy học là hệ thống các hành động có mục đích, có kế hoạch của GV với tư cách là chủ thể của hoạt động dạy học để tổ chức điều khiển hoạt động học của HS nhằm hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất và hoàn thiện nhân cách ở HS. Trong các nhà trường, HĐDH giữ vị trí trung tâm bởi nó chiếm hầu hết thời gian, khối lượng công việc của thầy và trò trong một năm học, đóng vai trò chủ đạo trong QTDH, được quy định bởi đặc thù lao động sư phạm của người GV, cho nên có cũng quy định tính đặc thù của công tác QLNT nói chung và trong QLHĐDH nói riêng.
Quản lý dạy học tích hợp thực chất là QL một số thành tố của QTDH bao gồm: hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, PPDH và giáo dục, đánh giá kết quả học tập của HS. Song song với việc QL các thành tố của QTDH qua quy trình hoạt động của người dạy thì HT cũng cần chú trọng QL các thành tố khác gồm mục tiêu chương trình dạy học, nội dung và các điều kiện hỗ trợ HĐDH bởi các yếu tố này cũng góp phần tạo nên QTDH [31]. Hiệu trưởng quản lý hoạt động dạy học cần chú ý những vấn đề cơ bản sau: QL thực hiện theo kế hoạch; QL thực hiện chương trình; QL chất lượng dạy và học; QL thực hiện thanh tra, kiểm tra GV và HS. Như vậy có thể hiểu: “QLHĐDH là những tác động của chủ thể QL vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể GV, HS với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường”.
Quản lý hoạt động động dạy học theo quan điểm tích hợp Trong nhà trường, hoạt động trong dạy học giữ vị trí trung tâm bởi nó chiếm hầu hết thời gian, khối lượng công việc của thầy và trò trong một năm học, đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, được quy định bởi đặc thù lao động sư phạm của người GV, cho nên có cũng quy định tính đặc thù của công tác QLNT nói chung và trong quản lý hoạt động dạy học nói riêng. Quản lý DHTQĐTH thực chất là quản lý một số thành tố của quá trình DHTQĐTH bao gồm: việc xây dựng chủ đề dạy học, hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, Phương pháp dạy học và giáo dục, đánh giá kết quả học tập của HS. Song song với việc quản lý các thành tố của quá trình DHTQĐTH thông qua quy trình hoạt động của người dạy thì hiệu trưởng cũng cần chú trọng quản lý các thành tố khác gồm mục tiêu chương trình dạy học, nội dung và các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học bởi các yếu tố này cũng góp phần tạo nên quá trình dạy học [24]. Hiệu trưởng quản lý hoạt động DHTQĐTH cần chú ý những vấn đề cơ bản sau: quản lý thực hiện theo kế hoạch; quản lý thực hiện chương trình; quản lý chất lượng dạy và 14 học; quản lý thực hiện thanh tra, kiểm tra GV và HS.
Dựa trên các khái niệm: quản lý, tích hợp, DHTQĐTH đã nêu trên, có thể hiểu: Quản lý hoạt động DHTQĐTH là những tác động của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến quá trình DHTQĐTH (được tiến hành bởi tập thể GV, HS với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường. Vị trí, vai trò của hiệu trưởng trường ở các trung học cơ sở 1. Vị trí, vai trò của trường trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân Theo quan điểm của giáo dục học: Hệ thống giáo dục quốc dân của một nước là toàn bộ các cơ sở chuyên trách việc giáo dục. Những cơ sở này liên kết chặt chẽ với nhau hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh và cân đối nằm trong hệ thống xã hội nhằm đảm bảo thực hiện chính sách của quốc gia trong lĩnh vực giáo dục quốc dân.
Theo quan điểm thực tiễn: Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống trường lớp, cấp học, các cơ sở giáo dục và các hình thức giáo dục để đào tạo thanh thiếu niên nhằm thực hiện mục tiêu của Nhà nước. Trong đó, trường THCS là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng [3]. Trường THCS có nghĩa vụ và quyền hạn: - Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành nhằm giáo dục toàn diện, phát triển nhân cách của HS. Công khai các mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
- Tuyển sinh và tiếp nhận HS; Vận động HS đến trường; QL HS theo quy định của BGD&ĐT. - Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công. - Huy động QL, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với gia đình HS, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
- Quản lí, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước.