Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn ở các trường THCS. Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG TỔ TRƢỞNG CHUYÊN MÔN Ở TRƢỜNG THCS 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu Bồi dưỡng giáo viên là một trong những bước quan trọng để thực hiện đổi mới căn bản giáo dục. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi bồi dưỡng giáo viên là vấn đề cơ bản phát triển trong phát triển giáo dục và gắn hoạt động này với công cuộc đổi mới giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển của kinh tế-xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, nghiên cứu về việc điều hành công tác bồi dưỡng, theo Xukhômlinxki (1968), để tổ chức hoạt động dạy và học nói chung và bồi dưỡng trong trường trung học nói riêng một cách hiệu quả, ngay trước khi bước vào năm học nhà trường phải lập kế hoạch hết sức cụ thể và chi tiết về phân công trách nhiệm, xác định những công việc cụ thể của mỗi thành viên; xác định thời lượng thực hiện mỗi công việc đã được đề ra [42].
Năm 1972, Edgar Faure cho xuất bản cuốn sách “Học tập để tồn tại” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục người lớn, đặt nền móng cho giáo dục suốt đời [45]. Trong báo cáo năm 1995 Học tập kho báu tiềm ẩn, UNESCO (1995) đã chỉ rõ: Vai trò của người giáo viên đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập cho học sinh. Cùng với sự thay đổi về vai trò, người giáo viên phải biết sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại. Vì vậy, giáo viên cần được trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cần thiết.
Sau đó, UNESCO và OECD, dựa trên kết quả phân tích các chỉ số giáo dục của các nước đang phát triển đã đưa ra các khuyến nghị đối với các quốc gia về chính sách đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên đủ năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục [41]. Trong sách Đào tạo bồi dưỡng thường xuyên, các tác giả Pierre Besnard và Bernard Lietard (1998) đã chỉ ra sự cần thiết đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho người lớn trên các lĩnh vực hoạt động để họ thích ứng với sự phát triển của xã hội và khoa học, công nghệ… Trong lĩnh vực giáo dục, hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học [35]. Nghiên cứu của tác giả Jacques Delors (2002), Learning: The treasure within - Học tập kho báu tiềm ẩn. Ông đã đề cập vấn đề bồi dưỡng và phát triển chuyên môn 9 trong bối cảnh mới.
Ông cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề đào tạo bồi dưỡng phát triển năng lực giáo viên, Ông khẳng định: ngày nay thế giới nói chung đang phát triển nhanh đến nỗi giáo viên cũng như phần lớn những người làm các nghề khác, phải đối mặt với thực tế là kiến thức trang bị ban đầu không đủ để giúp họ làm việc trong quãng đời còn lại, họ cần phải cập nhật và nâng cao kiến thức và kỹ năng của mình trong suốt cuộc đời [47]. Trong bài viết “Повышение квалификации учителей: проблемы и пути решения в россиском образования” (Nâng cao trình độ của giáo viên: Những vấn đề và con đường giải quyết trong giáo dục), Ponomarev O. (2012) cho rằng: giáo dục liên tục hay giáo dục suốt đời đang làm thay đổi căn bản nhiệm vụ của hoạt động bồi dưỡng giáo viên. Nền giáo dục Nga cần tập trung giải quyết nhiệm vụ khó khăn, đó là lựa chọn mô hình đào tạo năng lực và mô hình bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên.
Theo tác giả, có hai mô hình tiêu biểu về quản lý bồi dưỡng giáo viên, đó là: (1) Mô hình bồi dưỡng theo khả năng cung cấp của cơ quan bồi dưỡng, với đặc trưng là chủ thể tổ chức và tiến hành bồi dưỡng xác lập mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp… dựa trên khả năng cung cấp của cơ quan bồi dưỡng. Theo Gabr ek, Roeders (2013), việc tổ chức các khóa bồi dưỡng cần có sự tham gia của các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và các giảng viên giỏi thực hành, kết hợp đa dạng các loại hình bồi dưỡng, tạo điều kiện để đối tượng được bồi dưỡng được thử nghiệm thực hành, làm việc nhóm và cộng tác với nhau. Các phương pháp bồi dưỡng phải phát huy được tính tích cực của người học, đa dạng và phong phú, có các cách thức để đo lường, đánh giá kết quả học tập của người học. Ngoài ra, cần phải lấy ý kiến phản hồi của đối tượng được bồi dưỡng về chương trình bồi dưỡng, hình thức và phương pháp bồi dưỡng và cho rằng cần phải tiến hành các đánh giá này một cách có hệ thống.
Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng còn bao gồm cả việc xây dựng các chương trình bồi dưỡng dựa trên các đánh giá nhu cầu và dựa trên yêu cầu chuẩn đã được quốc gia xác định [46]. Nghiên cứu tại Việt Nam Thời gian qua, nhiều cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, tổ chức nhà nước và các nhà khoa học đã công bố nhiều công trình khoa học có giá trị về hoạt động cũng như quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên nói chung và quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ, giáo viên trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của các Bộ, ngành nói riêng chẳng hạn như: 10 Tác giả Trần bá Hoành (2004), trong bài viết “ Chất lượng giáo viên”, tác giả đã đưa ra cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ các khía cạnh như đặc điểm lao động của người giáo viên, sự thay đổi chức năng của người giáo viên trước yêu cầu đổi mới giáo dục. Theo tác giả, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo viên, đó là: quá trình đào tạo-sử dụng-bồi dưỡng giáo viên, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của giáo viên, năng lực tự học của giáo viên [26]. Trong luận án tiến sĩ “Quản lý hoạt động tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên trường trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Lục Thị Nga (2007) đã chỉ ra tầm quan trọng của tự học, tự bồi dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự bồi dưỡng, từ đó đưa ra những biện pháp thúc đẩy, tổ chức, điều hành một cách chủ động hoạt động tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên [30].
Tại các hội thảo khoa học về giải pháp cơ bản đổi mới quản lý trường phổ thông (năm 2006); giải pháp bồi dưỡng hiệu trưởng và CBQL trường phổ thông (năm 2008), tác giả Trần Bích Liễu phân tích thực trạng quản lý và nhu cầu bồi dưỡng hiệu trưởng trường THPT. Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đề xuất ý kiến đổi mới công tác bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông đáp ứng yêu cầu nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế…[12]. Luận án “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp ở Vùng Tây Bắc”, (2015) của tác giả Nguyễn Tiến Phúc đã làm rõ nội hàm những khái niệm và những vấn đề lý thuyết của việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT theo chuẩn nghề nghiệp. Luận án đã đề xuất 05 biện pháp khắc phục hiện trạng như: Nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp cho cho CBQL và giáo viên tại các trường THPT; Đổi mới công tác chỉ đạo của sở GD&ĐT đối với bồi dưỡng giáo viên THPT theo chuẩn nghề nghiệp; Chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng giáo viên THPT theo chuẩn nghề nghiệp; Quản lý các nguồn lực phục vụ cho công tác bồi dưỡng giáo viên THPT theo chuẩn nghề nghiệp; Xây dựng cơ chế phối hợp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT theo chuẩn nghề nghiệp giữa sở GD&ĐT với hiệu trưởng các trường THPT và đội ngũ giảng viên cốt cán.
Tác giả Trần Đăng Khởi (2019), trong luận án tiến sĩ QLGD Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực cho rằng, sự phát triển năng lực của giáo viên là kết quả của quá trình học tập suốt đời, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng theo các mục tiêu đặt ra nhằm nâng cao năng lực của người giáo viên từ năng lực được đào tạo thành năng lực nghề nghiệp [28]. Luận án “Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non ở các tỉnh miền núi phía Bắc theo chuẩn nghề nghiệp”, (2021) của Nông Thị Thu 11 Trang đã đưa ra nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp bao gồm: Tổ chức xác lập mục tiêu, yêu cầu bồi dưỡng; xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động bồi dưỡng; tổ chức nhân lực tham gia hoạt động bồi dưỡng; chỉ đạo thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học tại các lớp bồi dưỡng; mở rộng hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non dựa vào nhà trường; kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp. Luận án cũng đã đề xuất 7 biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non ở các tỉnh miền núi phía Bắc theo chuẩn nghề nghiệp, trong đó đối tượng tác động chính là những người làm nhiệm vụ bồi dưỡng và đội ngũ giáo viên mầm non.