Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh THPT nhằm đáp ứng chuẩn năng lực ngoại ngữ Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh THPT tại TP.HCM nhằm đáp ứng chuẩn năng lực ngoại ngữ Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh THPT tại TP.HCM nhằm đáp ứng chuẩn năng lực ngoại ngữ 5 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN TIẾNG ANH THPT TẠI TP.HCM NHẰM ĐÁP ỨNG CHUẨN NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 1.1 Ngoài nước Các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng GV là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục, việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Ở Hàn Quốc, việc bồi dưỡng GV là bắt buộc.
Bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cho GV lý luận và phương pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng và hiệu quả giảng dạy trong lớp học, mỗi chương trình bồi dưỡng thường kéo dài 182 giờ. Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng. Chương trình cũng được phân loại cho phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: bồi dưỡng về soạn thảo chương trình giảng dạy; đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; bồi dưỡng chung; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Những người thực hiện chương trình này sẽ quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng.
Nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến những kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới. Ở Nhật Bản, có quy chế bắt buộc bồi dưỡng hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề. GV đương nhiệm được bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức đổi mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể hiện qua lương, phụ cấp, trợ cấp.
Mức tăng lương dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần. Ở Philippin đã xây dựng kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dưỡng GV 10 năm (1998-2008), trong đó có những giải pháp đáng chú ý. Chẳng hạn, thu hút những học sinh trung học có học lực khá giỏi vào ngành sư phạm. Tạo việc làm cho GV mới ra trường, giảm bớt tình trạng thất nghiệp đối với GV mới.
Thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của 6 nghề dạy học và vị thế của GV trong xã hội. Đối với Cộng hòa Pháp, một quốc gia có nền giáo dục rất phát triển ở Châu Âu, đã xây dựng 49 nguyên tắc mới cho giáo dục. Trong đó có đề cập đến công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên GV: mỗi GV được hưởng ít nhất 35 giờ đối với công tác đào tạo tiếp tục hàng năm. Tăng cường làm việc theo nhóm để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau.
Thời gian làm việc của GV giảm từ 18 giờ xuống 15 giờ/tuần, thạc sĩ giảm từ 15 giờ xuống 14 giờ/tuần. Nhưng GV phải có 4 giờ/tuần có mặt trong nhà trường để nghiên cứu tài liệu chuẩn bị cho các hoạt động giảng dạy, đối với thạc sĩ là 3 giờ/tuần tức 132 giờ/năm. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục được chú trọng (Lý Thị Phương Loan, 2015). Một nghiên cứu đánh giá về năng lực của GV và kiểm định sự khác biệt giữa nó với các biến nhân khẩu đã thực hiện tại Sebia.
Trong nghiên cứu của Stojanović và Zdravković (2012) đã khảo sát 92 GV tiểu học và trung học ở Serbia với 23 biến để đánh giá năng lực của họ trong các lĩnh vực như kiến thức về các nội dung giảng dạy, phương pháp và hình thức thể hiện khả năng sư phạm, kiến thức tâm lý học sinh và đặc điểm cá nhân, chuẩn bị các kế hoạch và chương trình, công tác tư vấn giáo dục, hợp tác với các cộng đồng địa phương, kiến thức về giáo dục hoà nhập và năng lực phương pháp luận. Những kết quả của nghiên cứu cho thấy GV đã nhận ra mức độ cao nhất về năng lực cá nhân trong những lĩnh vực hoạt động có liên quan chặt chẽ đến quá trình giảng dạy của bản thân. Kinh nghiệm giảng dạy của GV được xem như là một trong những tiêu chí mà GV tự xem họ có nhiều năng lực nhất. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy năng lực của GV và các biến về giới tính (t = 1.05), loại trường (t = 1.05), và thâm niêm giảng dạy (t = 0.05) không có sự khác biệt có ý nghĩa.
Trong nghiên cứu của Chan (2001) được thực hiện trên GV Hồng Kông cho thấy kỹ năng cụ thể liên quan đến việc xác định, giảng dạy và tư vấn cho người học được đánh giá là quan trọng hơn so với chiến lược toàn cầu. Qua đó, nghiên cứu cũng chỉ ra các kỹ năng và năng lực của GV có thể thiết kế trong các môn học, mục tiêu và kết quả của chương trình đào tạo GV. 7 Theo quan điểm của UNESCO, vai trò của người GV thế kỉ 21 có những thay đổi theo hướng đảm nhiệm nhiều chức năng hơn, trách nhiệm lựa chọn nội dung giáo dục nặng nề hơn, phải chuyển từ cách truyền thụ tri thức sang cách tổ chức học sinh hoạt động chiếm lĩnh tri thức, coi trọng dạy học phân hoá cá nhân, biết sử dụng tối đa những nguồn tri thức đa dạng trong xã hội, biết sử dụng công nghệ thông tin, phương tiện kĩ thuật dạy học, phải tự học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; yêu cầu hợp tác làm việc với đồng nghiệp chặt chẽ hơn, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp ứng xử trong các quan hệ xã hội, với cha mẹ học sinh, học sinh và các tổ chức xã hội; yêu cầu GV tham gia hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường. Qua đó cho thấy GV không chỉ thực hiện đơn thuần vai trò truyền đạt kiến thức cho học sinh trong lớp học mà chuyển dần sang vai trò lãnh đạo trong mối quan hệ với học sinh, nhà trường và bản thân (trích dẫn bởi Nguyễn Danh Hữu, 2016).
Nghiên cứu về năng lực của GV dạy tiếng Anh, Selvi (2011) chỉ ra những năng lực cần có của GV tiếng Anh ở các lĩnh vực như: chương trình giảng dạy, học tập suốt đời, văn hoá-xã hội, cảm xúc. Trong đó, năng lực học tập suốt đời là một trong những năng lực quan trọng nhất, bao gồm những kỹ năng cụ thể: tự quản học tập, tìm kiếm và tiếp cận kiến thức, tư duy phê phán, tư duy phụ, giao tiếp, cá nhân, giải quyết vấn đề, lập kế hoạch dự án, đánh giá, làm việc theo nhóm và cộng tác với đồng nghiệp, học sinh.2 Trong nước Luật Giáo dục năm 2005 là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước ta, quy định sự hoạt động thống nhất, toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, nhằm tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục. Đối với các trường THPT, “Điều lệ trường Trung học phổ thông” là cẩm nang trong việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục và định hướng cho việc xây dựng đội ngũ GV THPT theo phương châm đào tạo kết hợp với sử dụng; Bồi dưỡng GV trên cơ sở đề cao việc tự bồi dưỡng và tự học của GV. Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được ban hành đã định hướng và tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng, bồi dưỡng GV trong đó có GV dạy tiếng Anh ở các trường 8 THPT theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ và từng bước hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu mới vừa cấp bách, vừa lâu dài.
Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng GV môn tiếng Anh như: Nguyễn Ngọc Sơn (2017) Quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT môn tiếng Anh đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tác giả đã làm rõ các mặt mạnh, mặt yếu của GV tiếng Anh THPT ở tỉnh Điện Biên cũng như thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng cho GV. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, hạn chế về năng lực của GV tiếng Anh là một trong các nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong việc triển khai lộ trình của Đề án ngoại ngữ Quốc gia 2020. Từ đó, tác giả đưa ra 8 giải pháp cần thiết để thực hiện tốt hoạt động bồi dưỡng GV tiếng Anh THPT tại tỉnh Điện Biên.
Lý Thị Phương Loan (2015) Quản lý hoạt động bồi dưỡng GV tiếng Anh các trường THPT công lập quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV tiếng Anh các trường THPT công lập Quận 12 và từ đó đề xuất 6 biện pháp để nâng cao công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng GV tiếng Anh THPT. Vũ Văn Hoa (2010) Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV tiếng Anh ở trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh. Tác giả đã đưa ra các nhận định về ưu điểm, nhược điểm về thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiếng Anh dựa trên kết quả khảo sát và từ đó đề xuất 9 biện pháp để nâng cao công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng GV tiếng Anh ở trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh.
Những nghiên cứu chung nhất về năng lực của GV có thể tìm thấy ở nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Nhóm tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, và Đinh Thị Kim Thoa (2007) đã trình bày những vấn đề chung về phẩm chất, năng lực của người thầy, nghề thầy trong bối cảnh phát triển mới trong chuyên khảo “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ GV”. Bên cạnh đó, các tác giả đề ra con đường để người thầy tự tìm hiểu nâng cao được phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nước hội nhập và công nghiệp hóa, đưa giáo dục vào sự chuẩn hóa, hiện đại hóa.