Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ 4 -5 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài TTL là một phẩm chất tâm lý có vai trò quan trọng đối với mỗi con người trong suốt cuộc đời. Nó là yếu tố quyết định đến sự chủ động, tích cực của mỗi cá nhân.
Vì vậy, trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về TTL ở nhiều phương diện khác nhau. Các nhóm tác giả người Nga như nhóm tác giả G. Kuzovkova, nhóm tác giả Yuri Serov, N. Bukina đã xem xét TTL trên các góc độ như tâm lý học, hay tiếp cận hành vi, và chỉ ra rằng, TTL là “một phẩm chất của nhân cách”, hay “một trạng thái hoạt động của cá nhân” [Dẫn theo 14; tr9].
“xem TTL như một trạng thái hoạt động của cá nhân, được phát triển trên cơ sở là một hình thức mới của tự ý thức, là khả năng con người biết cố gắng để tự đặt ra và giải quyết những mục đích có ý nghĩa xã hội”. Một số tác giả khác lại xem “TTL là khả năng hoạt động của cá nhân” (Dẫn theo [14; tr10]), đó là khả năng nắm vững kiến thức, khả năng độc lập trong tư duy và hành động, khả năng phán đoán, khả năng đặt ra nhiệm vụ mới và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Một số tác giả khác lại đi sâu nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của TTL, cấu trúc của TTL như S. Liublinskaia đều khẳng định “TTL của con người được phát sinh, hình thành ngay từ những năm đầu đời và được củng cố, bồi dưỡng, rèn luyện nhờ sự hỗ trợ của người lớn.
TTL của trẻ được hình thành và phát triển qua từng giai đoạn và được hoàn thiện dần”. Godina xem xét cấu trúc của TTL bao gồm 4 yếu tố: “nhận thức, xúc cảm, tình cảm (thái độ) và hành vi” [Dẫn theo 14, tr11]. Các nghiên cứu trên đã nêu lên những vấn đề cơ bản về TTL như bản chất, sự hình thành và phát triển TTL, cấu trúc tâm lý của TTL, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển TTL của trẻ,…Và từ đó chỉ ra sự cần thiết phải GD TTL cho trẻ ngay từ lứa tuổi MN. Nghiên cứu về GD TTL cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo, các nhà nghiên cứu M.
Eliseeva cho rằng, cần có sự tác động của cả gia đình và trường MN trong việc hình thành TTL cho trẻ. Trong đó, tác động của GV trong tổ chức, hướng dẫn trẻ có tính chất định hướng cho GD TTL và môi trường GD MN là điều kiện, cơ sở tạo hứng thú cho trẻ cho trong quá trình GD TTL cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo. Tác giả Christie Burnett trong cuốn “Encouraging Independence In Children” [38] đã cho rằng, trong GD TTL cho trẻ thì người lớn có vai trò vô cùng quan trọng. Người lớn là người trao quyền cho trẻ tự quyết định, đồng thời là người hướng dẫn, hỗ trợ trẻ hành động [38].
Maria Montessori, nhà GD nổi tiếng người Ý đề cao GD TTL cho trẻ bằng việc để trẻ tự ra quyết định trong mọi hoạt động và chịu trách nhiệm về quyết định đó, hạn chế tối đa sự tác động của người lớn vào quá trình trẻ hoạt động. Việc của người lớn là tạo cơ hội cho trẻ phát triển TTL bằng cách tạo ra môi trường GD phù hợp, thúc đẩy được trẻ hoạt động. Trong các nghiên cứu của mình, bà đều đặc biệt chú trọng đến những yếu tố về môi trường tâm lý và môi trường vật chất đối với sự phát triển TTL cho trẻ [Dẫn theo 32; tr76]. Tác giả Sugahara Yuko trong cuốn Cha mẹ Nhật dạy con TL đã nêu ra quan điểm: TTL là tiền đề, cơ sở cho một cuộc sống tốt đẹp và sự thành công của trẻ sau này.
Gia đình là môi trường GD TTL quan trọng nhất cho trẻ. Thời điểm GD là thời điểm trẻ muốn làm mọi thứ. Vì vậy, cha mẹ phải đón nhận, tôn 7 trọng, ở bên dõi theo, tạo môi trường tốt nhất cho MN ấy lớn lên khỏe mạnh. Cha mẹ đóng vai trò là “huấn luyện viên” chứ không “làm thay” trẻ.
Tác giả Masaaki Yatagai trong cuốn Giúp con TL từ 0 - 6 tuổi cho rằng trong mỗi đứa trẻ luôn có những hứng thú tiềm ẩn, việc của cha mẹ là khơi gợi cảm xúc, hứng thú học hỏi và tinh thần TL của trẻ để giúp trẻ tự tin trong cuộc sống. Tác giả Nishimura Hajime trong cuốn Cách người Nhật dạy con TL cũng có quan điểm tương tự. Nishimura Hajime cũng cho rằng, ngay từ nhỏ, cha mẹ nên quan tâm đến việc GD TTL cho trẻ bằng cách khích lệ để trẻ hứng thú, yêu thích việc tự thực hiện các việc đơn giản như vệ sinh cá nhân, ăn, ngủ,… Vai trò của cha mẹ, phương pháp giáo dục TTL cho trẻ của cha mẹ còn được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến như Majorie Ingall trong cuốn Mẹ Do Thái dạy con TL, Sun Yu Mei trong cuốn Mẹ Mỹ dạy con tự tin. Về vấn đề GD TTL cho trẻ thông qua CĐSHHN, các nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò của CĐSHHN trong việc GD TTL cho trẻ.
Deborah Stewart trong cuốn “Our daily schedule in preschool” [39] đã cho rằng việc lặp đi lặp lại các hoạt động trong CĐSHHN của trẻ là điều kiện cho việc hình thành các thói quen, rèn luyện các KN của trẻ. Theo Sheryl Cooper, trẻ được thực hành, trải nghiệm, rèn luyện TTL thông qua việc tổ chức CĐSHHN một cách thường xuyên, khoa học. CĐSHHN được coi là phương tiện để GD TTL cho trẻ. Thông qua chế độ sinh hạt hàng ngày, các nhà nghiên cứu cho rằng cần GD TTL ở những nội dung: Nhận thức về TTL, thái độ, cảm xúc và những hành vi cụ thể trong mỗi loại hình hoạt động của CĐSHHN.
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu TTL, GD TTL cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo trên các phương diện khác nhau. Trong đó, việc sử dụng CĐSHHN như một phương tiện để GD TTL cho trẻ đã được đề cập. Những nghiên cứu đó là những căn cứ, cơ sở để tác giả xây dựng hệ thống lý luận cho đề tài luận văn. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, một số nhà GD học, tâm lý học cũng đã quan tâm đến vấn đề TTL và GD TTL cho trẻ MN.
Các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim [27] đã khẳng định TTL của trẻ được hình thành rất sớm xuất hiện vào khoảng 18 tháng và biểu hiện rõ nét khi trẻ khoảng 3 tuổi với các biểu hiện như trẻ muốn tự làm một số việc: xúc ăn, thay quần áo, tự chơi đồ chơi, tự đi giày dép,… Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [28] cũng đã phân tích và chỉ ra 3 giai đoạn phát triển TTL của trẻ, bao gồm: - Trẻ tự giác thực hiện mà không cần sự nhắc nhở, giúp đỡ của người lớn những công việc đơn giản, quen thuộc hàng ngày. - Trẻ tự có khả năng độc lập thực hiện các hoạt động trong điều kiện, bối cảnh, tình huống mới. - Trẻ chủ động, tự giác thực hiện hành vi không cần sự hỗ trợ của người lớn ở bất kỳ điều kiện nào. Tác giả Nguyễn Hồng Thuận [28] đã nghiên cứu ở các góc độ triết học, xã hội học, tâm lí học, GD học, ngôn ngữ học để nghiên cứu sự ảnh hưởng của những tác động từ cha mẹ, gia đình đối với sự phát triển TTL cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Tiếp cận dưới góc độ tâm lý học, các tác giả, Trần Hữu Luyến, Nguyễn Quang Uẩn, Trịnh Quốc Thành đã phân tích cấu trúc của TTL trên cơ sở phân tích cấu trúc TTL của trẻ bao gồm: Nhận thức, thái độ và hành vi [33]. Về GD TTL cho trẻ, các nhà nghiên cứu ở nước ta chú trọng nghiên cứu về vai trò, nội dung, PP tác động của nhà trường, gia đình, xã hội trong GD TTL cho trẻ. Trong cuốn “Giáo dục Mầm non – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” [28], tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng, thông qua việc khích lệ, động viên trẻ tự thực hiện một số hoạt động trong khả năng của trẻ, người lớn có thể giúp trẻ hình thành và phát triển TTL. 9 Trong luận án “Một số biện pháp tác động của gia đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi” [29], Nguyễn Hồng Thuận đã phân tích những tác động thường xuyên, có mục đích từ phía cha meh và các thành viên khác trong gia đình đến sự hình thành và phát triển TTL cho trẻ [29].
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trinh đã “Nghiên cứu những điều kiện tâm lý của sự phát triển tính độc lập ở trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi Đóng vai theo chủ đề” [31]. Trong đó, GV là người tạo môi trường tâm lý cho trẻ phát triển TTL thông qua việc động viên, khuyến khích tạo niềm tin, tôn trọng trẻ, trao quyền cho trẻ. Về GD TTL cho trẻ thông qua CĐSHHN ở trường MN, cũng đã có một số nghiên cứu như: Tác giả Hoàng Thị Phương trong “Giáo trình vệ sinh dinh dưỡng” [24] đã khẳng định vai trò của chế độ sinh hoạt đối với quá trình GD TTL cho trẻ em. CĐSHHN với tính chất lặp đi lặp lại các hoạt động là cơ sở, điều kiện cho việc hình thành các thói quen trong sinh hoạt của trẻ, trẻ nhận thức được các công việc cần thực hiện và tự giác thực hiện không cần sự nhắc nhở, giám sát của người lớn.
Tác giả Nguyễn Thị Mĩ Lộc cũng đã “Nghiên cứu về tính tự lập của trẻ mẫu giáo lớn thông qua những hoạt động sáng tạo” [20]. Tác giả Hà Sơn trong nghiên cứu về “Hình thành thói quen sống độc lập cho trẻ” [26] đã đề cập đến vai trò của gia đình, nhà trường trong hình thành những thói quen tự phục vụ, TL giúp trẻ độc lập trong nhận thức, trong thực hiện các hoạt động hàng ngày. Tác giả Nguyễn Thanh Huyền đã “Nghiên cứu những biểu hiện tự lực của trẻ mẫu giáo lớn thông qua chế độ sinh hoạt tại trường Mầm non”[15]. Tác giả Lê Thị Thu Hương nghiên cứu về tính độc lập của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua việc thống nhất các hoạt động cơ bản trong quá trình GD trẻ [16].
10 Luận án tiến sĩ GD học của tác giả Lê Thị Huyên đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về TTL của trẻ 3 - 4 tuổi và đề xuất một số biện pháp “Giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non” [14].