CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN THAM GIA 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vào đầu thập kỷ 90, chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên được các tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) như WHO, UNICEF, UNESCO đã chung sức xây dựng. Nhiều áp dụng chuyên biệt đã định hướng rèn luyện hệ KNS cho thanh thiếu niên dựa trên các nhóm kỹ năng như: kỹ năng thuộc về tâm lý cá nhân, kỹ năng trong mối quan hệ với người khác, kỹ năng cộng đồng và kỹ năng làm việc.
Ở các nước phương Tây, việc giáo dục KNS được rất được quan tâm và nghiên cứu, vì đây là một trong những vấn đề trọng điểm trong việc nghiên cứu và phát triển con người. Đối với thanh thiếu niên, việc giáo dục KNS được lồng ghép, tích hợp trong từng môn học khác nhau trong chương trình học, thông qua những hoạt động cụ thể.Peecnicova cho rằng, phẩm chất đạo đức hình thành ở HS trước hết là trong quá trình lao động. Phẩm chất ấy thể hiện ở sự ham thích và thói quen lao động phục vụ bản thân, gia đình, nhà trường [24]. Như vậy, kỹ năng lao động tự phục vụ chính là một biểu hiện của phẩm chất đạo đức của HS.
Theo ông, nên cho HS làm việc dễ dàng nhưng có ích từ khi các em còn nhỏ. Việc thực hiện các KNTPV như: sự kỷ luật, ý thức giá trị bản thân, khả năng tự lập, sống có trách nhiệm, biết tôn trọng người khác, chăm sóc sức khỏe bản thân… Dựa trên quan 8 điểm: “Kiên quyết yêu cầu phải để HS em tự phục vụ từ khi còn nhỏ, nếu không các em sẽ phát triển thói ăn bám xấu xa” của Crupxkaia, tác giả cho rằng, con cái chúng ta phải hưởng tuổi thơ hạnh phúc, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là tuổi thơ ấy phải nhàn rỗi. Đồng thời, nguyên tắc vô cùng đơn giản và quan trọng để rèn cho HS thói quen vệ sinh sạch sẽ được tác giả chỉ ra, đó là: Bố mẹ không làm thay các con những việc mà các con có thể tự làm được, ngay cả với những HS bé nhất, tùy theo khả năng, HS em phải tự ăn uống, rửa mặt đánh răng. Tác giả Côvaliôp trong công trình nghiên cứu của mình đã rất chú trọng đến việc GD lao động tự phục vụ cho HS.
Tác giả cho rằng: Thói quen là bản tính thứ hai của con người. Khi con người rèn được thói quen lao động, nếu không được làm việc sẽ không chịu được v. Như vậy, theo Côvaliôp một khi đã có thói quen lao động thì con người sẽ chủ động thực hiện công việc, nếu như không thực hiện thường xuyên thì họ sẽ cảm thấy khó chịu, buồn bực. Vì vậy, đối với HS một khi các KNTPV đã hình thành thì cần được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục để chúng trở thành nhu cầu của HS, nếu không các em sẽ thấy khó chịu.
Tác giả cũng nhấn mạnh rằng việc HS chủ động thực hiện các công việc tự phục vụ sẽ mang lại cho chúng niềm vui, niềm tự hào đó là động lực thôi thúc các em thực hiện lao động tự phục vụ. Vì vậy tác giả cho rằng giáo viên cần tạo được niềm vui, sự hứng thú cho HS trong quá trình HS thực hiện hoạt động tự phục vụ, điều đó mang lại hiệu quả cao trong việc GD lao động tự phục vụ cho HS.Peecnicôva người sáng lập khoa học GD Nga, trong công trình nghiên cứu của mình ông đã chỉ ra rằng sự phát triển của HS em là kết quả lao động của bản thân HS của hoạt động nhận thức và trí tuệ của HS [24]. Để HS yêu thích lao động, thì cần phải giúp HS tiếp cận với lao động, mức độ thể hiện KNTPV ở HS phụ thuộc vào việc tham gia vào hoạt động lao động trong môi trường xung quanh của HS. Tác giả Nhechaeva lại đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của việc GD, rèn luyện thói quen lao động tự phục vụ đối với sự hình thành nhân cách HS.
Tác giả cho rằng cần phải GD KNTPV cho HS ngay từ lứa tuổi mẫu giáo để HS có nhu cầu thực hiện hành động tự phục vụ một cách tự giác. Cũng theo tác giả, để hình thành được những kỹ năng kỹ xảo, thói quen lao động, KNTPV cho HS thì công tác rèn luyện 9 cần phải tiến hành thường xuyên, tỉ mỉ theo từng bước cụ thể trong một thời gian liên tục [1]. Nhechaeva cũng đề xuất một số phương pháp như: Làm mẫu từng thao tác, giải thích bằng lời, nêu gương, tập luyện hàng ngày, sử dụng trò chơi, sử dụng trực quan, để dạy HS trong giờ học, trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày. Theo tác giả giáo viên phải củng cố thói quen cho HS bằng cách nhắc nhở thường xuyên và bằng sự rèn luyện hàng ngày của HS [27].Krupcaia là các nhà GD Nga rất nối tiếng, rất quan tâm tới việc GD HS thông qua lao động, GD KNTPV cho HS, nguyên tắc lý tưởng là phải làm thế nào cho bản thân lao động có tính hấp dẫn HS và kích thích HS cố gắng, đạt được những kết quả tốt đẹp.
Các tác giả này cho rằng, trong lĩnh vực lao động không dùng khen thưởng và trách phạt. Khi nhận nhiệm vụ lao động và hoàn thành nhiệm vụ đó khiến cho HS có tâm trạng thoải mái, vui sướng. Nếu GV công nhận kết quả lao động của các em là tốt thì đó là lời động viên, là phần thưởng đáng quý đối với các em. Đối với HS tiểu học, phải GD HS thói quen sinh hoạt, thói quen văn hóa, ý thức tự lập, khả năng tự kiềm chế, tinh thần vượt khó ý thức trách nhiệm đối với bản thân và mọi người.
Tác giả quan tâm trước tiên tới GD và phát triển KNTPV ở HS thông qua trò chơi, chính trò chơi phát triển rất nhiều kỹ năng ở HS. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới chương trình GD tiểu học, chương trình tiểu học mới hướng đến việc GD KNS được tích hợp với các hoạt động khác. Khi GD lao động KNTPV, nhằm hình thành kỹ năng tự chăm sóc mình cho HS tiểu học đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm khai thác ở nhiều mức độ khác nhau như: Nguyễn Oánh; Nguyễn Bát Can; Lâm Đình Liêm; Phạm Đức Khâm; Hoàng Hồi; Nguyễn Văn Khoa; Đinh Kỷ; Phan Sỹ Kỷ. Hầu hết các tác giả đều đề cập đến vai trò của GD KNTPV đối với GD phẩm chất ở trẻ.
Các nghiên cứu đều hướng đến phương pháp dạy và học truyền thống như hỏi đáp, giải thích, phân tích, thực hành. Bàn về quản lý GD KNS cho HS tiểu học, Nguyễn Thị Thanh Vân (2008) đã phân tích thực trạng quản lý GD KNS cho HS hiện nay trong nhà trường phổ thông, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GD KNS cho HS, từ đó nâng cao chất lượng KNS cho HS, giúp HS thích ứng được với cuộc 10 sống nhà trường và cuộc sống xã hội [40]. Trên cơ sở lý luận về GD KNS cho HS tiểu học, Ngô Thị Tuyên (2010), cho rằng đây là vấn đề cần thiết cho CBQL, đặc biệt là Hiệu trưởng nhà trường, để tham khảo và áp dụng trong quá trình quản lý công tác GD KNS cho HS. Để đảm bảo mục tiêu GD KNS cho HS thì cần có sự phối hợp giữa các lực lượng GD, trong đó giáo viên và CBQL là hai lực lượng chính [37].
Lưu Thu Thủy (2010) đã hệ thống hóa và làm phong phú thêm lý luận về quản lý GD KNS cho HS (khái niệm, các thành tố cơ bản, các cách tiếp cận trong việc xác định nội dung quản lý hoạt động GD KNS và các yếu tố ảnh hưởng) của quản lý GD KNS cho HS. Từ đó, tác giả đề xuất 4 biện pháp quản lý GD kỹ năng sống bao gồm: Xác định và thực hiện mục tiêu GD KNS cho HS theo đúng quy định của ngành và phù hợp với điều kiện nhà trường; Hoàn thiện bộ máy quản lý GD KNS và nâng cao năng lực đội ngũ thực hiện GD KNS ở trường; Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và tăng cường kiểm tra, đánh giá thực hiện GD KNS cho HS; Xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để GD KNS cho HS [35]. Đối với vấn đề quản lý hoạt động GD KNS cho HS của hiệu trưởng các trường tiểu học, Lê Thu Hằng (2012) tiến hành nghiên cứu khảo sát tại các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội và đưa ra kết quả: Thực trạng công tác GD KNS cho HS trong các trường tiểu học được đánh giá ở mức độ khá tốt. Hiện tại nhà trường đã thực hiện các nội dung quản lý GD KNS như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch GD KNS trong nhà trường tiểu học.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GD KNS cho HS trong các trường tiểu học được xác định bao gồm: Yếu tố thuộc về gia đình và yếu tố thuộc về môi trường; Yếu tố thuộc về CBQL trường tiểu học; Yếu tố thuộc về GD. Tác giả khẳng định để nâng cao chất lượng hoạt động GD KNS cho HS trong các trường tiểu học, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý GD KNS trong nhà trường: Khảo sát kỹ năng sống hiện có của HS và lập kế hoạch GD KNS cho HS; Tổ chức GD KNS theo chương trình GD KNS cho HS phù hợp với bối cảnh hiện nay; Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên kiến thức, kỹ năng GD KNS cho HS trong trường tiểu học. Tăng 11 cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch GD KNS cho HS. Tổ chức tốt sự phối hợp giữa các bộ phận trong nhà trường tham gia GD KNS cho HS [20].
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Liên (2019) đã nghiên cứu “Mối quan hệ gia đình, nhà trường và cộng đồng trong GD đạo đức, lối sống cho HS - phân tích từ lí thuyết của Joyce Epstein”. Tác giả đã tiếp cận theo lí thuyết của Joyce Epstein về 6 kiểu tham gia của gia đình, cộng đồng vào GD nhà trường, bài viết đưa ra những chỉ dẫn hữu ích cho cha mẹ về các hành vi tham gia vào hoạt động GD nhà trường, ý nghĩa mà sự tham gia này mang lại cho cha mẹ và con cái họ. Đồng thời, đứng từ phía nhà trường cũng cần nhận ra rằng, các gia đình không thể chủ động và tự biết cách tham gia vào GD nhà trường.