Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nhóm công trình nghiên cứu về giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo Kĩ năng hợp tác là nhịp cầu nối để con người chuyển hoá tri thức trở thành thái độ, hành động và suy nghĩ tích cực, lành mạnh. Người có kĩ năng hợp tác tốt sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thách thức; biết xử lý, giải quyết tình huống một cách tích cực và hiệu quả.
Trong thực tiễn, đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về giáo dục kĩ năng hợp tác ở trẻ mầm non nói chung. Quan tâm đến tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mầm non, một số tác giả nước ngoài như Lafreniere và cộng sự [72]; Ramani [57]; Karen Kearns [67], [68] có điểm gặp gỡ là coi việc giáo dục kĩ năng hợp tác có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Cụ thể, kĩ năng hợp tác giúp cho trẻ phát triển toàn diện về kiến thức, kĩ năng và thái độ như mở rộng hiểu biết, tích lũy vốn sống, phát triển các kĩ năng xã hội, phẩm chất đạo đức và các mối quan hệ. Trong nước, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [43] nhấn mạnh vai trò sự hợp tác đã tạo môi trường cho trẻ lớn lên vì “Phần lớn những nét tính cách của trẻ được nhen nhóm từ các nhóm bạn bè”.
Tác giả Hoàng Thị Phương cũng bổ sung “trẻ em vừa là sản phẩm vừa là người tạo ra những mối quan hệ đó” và “hợp tác là giai đoạn phát triển cao nhất của sự tương tác xã hội” [30], [31], [32] [33]. Một số tác giả quan tâm nghiên cứu xác định lứa tuổi phù hợp để giáo dục kĩ năng hợp tác như Howes và Matheson [66]; Eisenberg và Fabes [55]; 7 Ramani [57], [58]… chỉ ra ngay từ khi 1 - 2 tuổi trẻ đã có những biểu hiện ban đầu về hoạt động hợp tác như chia đồ chơi, biết trao đổi thảo luận cùng bạn bè về vấn đề nào đó mà trẻ quan tâm. Nhưng hải đến giai đoạn 4 - 6 tuổi trẻ mới ở giai đoạn có nhiều thuận lợi để giáo dục kĩ năng hợp tác. Ở giai đoạn 4 - 6 tuổi, trẻ phát triển về tâm, sinh lý, ngôn ngữ và đây là “những năm tháng kì diệu” vì đứa trẻ đã có thể độc lập, tự kiểm soát, chủ động, khẳng định mình.
Nhóm tác giả nghiên cứu về biểu hiện kĩ năng hợp tác của trẻ gồm các tác giả tiêu biểu như Perret - Clermont [90]; Doise - Mugny [88]; Parker Gottman [78] có điểm chung cho rằng biểu hiện của kĩ năng hợp tác ở trẻ là chúng nắm rõ và cùng hướng đến mục tiêu chung của nhóm, có khả năng phối hợp, chia sẻ, biết kiểm soát xung đột, chấp nhận, thương lượng với nhau. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu của Hoàng Thị Phương [30], Lê Xuân Hồng và cộng sự [19], Đinh Thị Kim Thoa [37] và nhiều tác giả khác cũng nêu lên biểu hiện kĩ năng hợp tác ở trẻ là chú ý đến xung quanh; phối hợp với bạn thường; thường xuyên trao đổi với nhau hoặc trẻ mong muốn, đề nghị được tham gia, nhập nhóm chơi, thể hiện mong muốn cảm xúc phù hợp; suy nghĩ và hành động một cách có ý thức trong những tình huống khác nhau. Ngoài ra, trẻ thân thiện, biết hợp tác với các bạn khác trong tình huống chơi. Khi nghiên cứu về sự hợp tác của trẻ.
Ngoài ra, nhóm tác giả Lê Xuân Hồng và cộng sự [19] cũng xây dựng bảng tiêu chí đánh giá kĩ năng hợp tác của trẻ trong quá trình chơi. Trong đó, một số tiêu chí cơ bản như: tìm kiếm trẻ chơi chung, luân phiên đóng vai, chờ đợi đến lượt, không tranh giành, sử dụng chung đồ chơi, tự giải quyết các xung đột cá nhân và nhiều biểu hiện thuộc về hành động và thái độ khác. Nhóm tác giả quan tâm nghiên cứu nội dung giáo dục hợp tác cho trẻ tiêu biểu như Shamanskaja [108], Kristna [69], Karen Keans [68] khẳng định việc dạy cho trẻ tự tin, thân thiện, cởi mở, hào đồng, có nhu cầu hợp tác là 8 điều cần thiết trong viện giúp trẻ tự tin thân thiện, khả năng tập trung, tham gia vào các nhiệm vụ có tính thử thách, khả năng giao tiếp, biểu lộ cảm xúc, biết thực hiện theo hướng dẫn.Nếu như Shamanskaja còn chú ý đến việc dạy cho trẻ cách giải quyết các mâu thuẫn và biết cách thể hiện mình [91] thì Kozlenkova [89] đã đưa ra 3 nội dung đối với việc giáo dục kĩ năng hợp tác ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi bao gồm hình thành cho trẻ khả năng hoạt động tương tác theo cặp và nhóm, phát triển khả năng biểu hiện và khẳng định mình, xây dựng sự tự kiểm soát lẫn nhau và biết đánh giá kết quả hoạt động. Ở Việt Nam, các tác giả Lê Bích Ngọc [27]; Vũ Thị Nhân [26], Lưu Thị Thu Hằng; Hoàng Thị Phương, Nguyễn Thị Ánh Tuyết và nhiều tác giả khác đề cập đến các nội dung giáo dục KNHT cho trẻ là: Thỏa thuận mục đích, phân công vai trò, thực hiện đúng vai trò, thương lượng với bạn để giải quyết mâu thuẫn, có trách nhiệm đối với công việc chung, tìm kiếm sự giúp đỡ của người khác, giúp đỡ người thân, bạn bè khi gặp khó khăn, tạo cơ hội để rèn cho trẻ kĩ năng hợp tác.
Nghiên cứu PPGD kĩ năng hợp tác cho trẻ, các tác giả Gardner [56], BronfenBrenner [52] ở nước ngoài và Lê Xuân Hồng [18] Nguyễn Hữu Châu [12], Vũ Thị Nhân [26] ở trong nước đều nhấn mạnh tới việc cần tạo môi trường và khuyến khích trẻ tương tác thường xuyên với môi trường, bạn bè, mọi người xung quanh, đưa trẻ vào các hoạt động khám phá và thí nghiệm, rèn luyện ngôn ngữ giao tiếp, tổ chức trò chơi. Cụ thể, Shamanskaia [16], Kozlenkova [96] chú trọng đến việc: Tạo tình huống; tăng cường các nhiệm vụ, bài tập đòi hỏi làm việc nhóm; trò chơi đóng vai có chủ đề. Một số nghiên cứu của tác giả Việt Nam chủ yếu quan tâm đến việc giáo dục KNHT của trẻ thông qua trò chơi, như: trò chơi đóng vai có chủ đề, trò chơi dân gian. Các tác giả Lê Xuân Hồng [18] Nguyễn Hữu Châu [12], Vũ Thị Nhân [26] đã xây dựng một số biện pháp: Tạo tình huống trong quá trình chơi của trẻ, mở rộng mối quan hệ giữa các vai chơi, chủ đề chơi, trao đổi về những mong muốn với 9 trẻ, tạo không gian chơi phong phú.
Tác giả Lưu Thị Thu Hằng [ ] quan tâm đến việc xây dựng mô hình hợp tác nhằm hình thành kĩ năng hợp tác cho trẻ 4 - 5 tuổi. Đồng thời, các tác giả cũng nhấn mạnh để rèn kĩ năng hợp tác thì cần xây dựng những biện pháp dạy học lâu dài, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí, tư duy của trẻ trong thực tiễn. Nhóm nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng hợp tác cho trẻ gồm nhiều tác giả như Parker và Gottman [78], Howes và Matheson [66] cho rằng tình bạn và cảm xúc về tình bạn là vấn đề quan trọng trong việc thúc đẩy, phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ. Ngoài ra, Piaget [34], Perret - Clermont [90] và Doise - Mugny [88] coi trọng yếu tố sự đồng đều về mức độ nhận thức của trẻ sẽ ảnh hưởng lớn đến việc hợp tác.
Murphy và Faulk [75] lại quan tâm sự hợp tác của trẻ không phân biệt các đặc điểm cá nhân mà nó phụ thuộc vào các yếu tố như: nhiệm vụ nhận thức giao cho trẻ như thế nào, động cơ nảy sinh của trẻ trước tình huống đó. Trong nhóm, các trẻ có mức độ phát triển khác nhau sẽ có ý nghĩa lớn cho quá trình nhận thức xã hội vì chúng được trao đổi ý kiến, bắt chước và học hỏi nhau. Nhóm công trình nghiên cứu QLGD kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo lớn Trong thực tiễn, đã có một số công trình quan tâm nghiên cứu về thực tiễn và QLGD kĩ năng hợp tác cho trẻ mầm non nói chung. Một số công trình tiêu biểu như: Tác giả Trịnh Thúy Giang đã có nghiên cứu về Thực trạng về kĩ năng thiết kế HĐGD KNS của GVMN hiện nay.
Trong đó, tác giả chú trọng nghiên cứu HĐGD KNS ở trong các trường mầm non triển khai chương trình GDMN mới (2009). Vấn đề giáo dục KNS ở cấp học mầm non đang rất thiếu những đề tài NCKH, đặc biệt là nghiên cứu về các kĩ năng thiết kế KNS của GVMN. Bài báo đã đi sâu nghiên cứu kĩ năng xây dựng HĐGD rèn luyện KNS của GVMN, qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn giúp các trường mầm non có những 10 biện pháp thích hợp, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh bậc học này. Trong Quản lí HĐGD kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non công lập quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Trương Thị Tuyết Hạnh đã nghiên cứu, tổng hợp cơ sở lí luận về HĐGD kĩ năng hợp tác, quản lý HĐGD kĩ năng hợp tác cho trẻ; khảo sát và đánh giá thực trạng về quản lí HĐGD KNS cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi tại mầm non công lập, quận 7 thành phố Hồ Chí Minh.
Từ cơ sở lí luận và và tiễn, tác giả đã đề xuất năm biện pháp đổi mưới cách thức quản lý HĐGD kĩ năng hợp tác cho trẻ mầm non. Đề tài Quản lý HĐGD kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi dân gian ở các trường mầm non tại huyện Hớn Quản, Bình Phước của tác giả Trương Thị Nha Trang đã đề xuất sau biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lí hoạt động phát triển kĩ năng hợp tác cho học sinh là nâng cao nhận thức cho CBQL, GVMN về quản lý HĐGD kĩ năng hợp tác cho trẻ; tăng cường công tác xây dựng kế hoạch HĐGD kĩ năng hợp tác; cải tiến công tác tổ chức HĐGD kĩ năng hợp tác cho trẻ; tăng cường chỉ đạo HĐGD kĩ năng hợp tác; phối hợp các điều kiện đảm bảo công tác quản lý HĐGD kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi dân gian.