Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh tại các trường trung học cơ sở thông qua trải nghiệm. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh tại các trường trung học cơ sở, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thông qua trải nghiệm. Biện pháp Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh tại các trường trung học cơ sở, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thông qua trải nghiệm.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác thông qua hoạt động trải nghiệm Trong cuộc sống, có rất nhiều các kĩ năng sống cần thiết cho cuộc sống, một trong những kỹ năng đó là kỹ năng hợp tác. Trong mọi mặt cuộc sống xã hội, từ gia đình, nhà trường đến xã hội đều cần đến kỹ năng hợp tác.
Kỹ năng hợp tác quan trọng giúp cho chủ thể giải quyết được công việc hiệu quả, đặc biệt đối với lĩnh vực như học tập, sinh hoạt thường ngày, các hoạt động khác…Các vấn đề này được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Tác giả John Dewey là người đã đề ra và thực thi tư tưởng đề cao khía cạnh xã hội của việc học, ông là nhà giáo dục Mỹ điển hình nghiên cứu về lĩnh vực này, Ông cho rằng dân chủ của học sinh được hình thành nhờ vai trò của nhà giáo dục. Để thành công con người có kỹ năng hợp tác, việc hợp tác của con người là tất yếu. Ông cho rằng, cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ của một thế giới thu nhỏ và các hoạt động giao tiếp, hoạt động hợp tác giữa các nhóm nhỏ với nhau, các hoạt động hợp tác dù quy mô nhỏ cũng tuân theo nguyên tắc đảm bảo sự liên tục và tác động qua lại [28].
Cũng nghiên cứu về vấn đề này là các cộng sự và Jacques Delors, nhóm cộng sự này đã nghiên cứu 193 công trình về giáo dục hợp tác tính đến năm 1989. Theo nhóm tác giả thì giáo dục hợp tác so với các hình thức tác động khác thì dễ thành công hơn. Ngoài ra nhóm cộng sự đã tiếp tục nghiên cứu về sự tác động của lòng tự trọng, tư duy phê phán khi áp dụng giáo dục hợp tác, nhóm đưa ra kết luận rằng giáo dục hợp tác tỏ ra ưu việt hơn đa số các hình thức giáo dục truyền thống [29]. 7 Trên thế giới giáo dục hợp tác đã được tác giả nghiên cứu từ rất lâu, đến nay nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu các nội dung này.
Không năm ngoài xu thế của các nước trên thế giới, Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề hợp tác và kỹ năng hợp tác. Trong đó, tác giả Thái Duy Tuyên, nghiên cứu “Phương pháp dạy học truyền thống” tài liệu này đã đưa ra một số khái niệm như hợp tác là gì? Vai trò, tầm quan trọng của hợp tác và việc bồi dưỡng kỹ năng hợp tác. Cũng như các tác giả trên thế giới, ở đây ông cũng khẳng định hợp tác là yếu tố cần thiết trong cuộc sống, không thể tồn tại cuộc sống lâu dài mà thiếu hợp tác. Sự hợp tác tồn tại trong mọi lĩnh vực từ đơn giản đến phức tạp từ khía cạnh công việc đến khía cạnh cuộc sống hàng ngày.
Để đạt mục tiêu chung các cá nhân cần có sự phối hợp, sự chia sẻ và phân công nhiệm vụ khác nhau, do đó hợp tác đóng vai trò quan trọng trong thành bại của công việc. Trên cơ sở đó cho rằng bên cạnh các kỹ năng khác thì kỹ năng hợp tác đóng vai trò quan trọng đối với con người nói chung và đối với học sinh nói riêng. Chính vì vậy, kỹ năng hợp tác cần được coi trọng trong giáo dục học sinh ở các nhà trường [48]. Một nghiên cứu chuyên sâu về nội dung nhóm hợp tác và dạy học hợp tác được tác giả Đặng Thành Hưng nghiên cứu.
Ông cho rằng: Tính hợp tác hiện nay trong nhà trường đó chính là mối quan hệ giữa người học vừa mạng tình hợp tác và tính cạnh tranh tương đối. Tính chất này của dạy học là cho quá trình dạy học linh động, tăng cường tính hiệu quả [27, tr12]. Ở Việt Nam hiện nay, đã xuất hiện những công trình nghiên cứu của các tác giả về giáo dục hợp tác điển hình như: Tác giả Lê Văn Tạc (2005), nghiên cứu về “Dạy học hòa nhập cho trẻ khiếm thính bậc tiểu học theo phương thức hợp tác nhóm”. Qua nghiên cứu tác giả đã chỉ ra phương thức tổ chức dạy học cho trẻ khiếm thính qua phương thức hợp tác.
Việc triển khai hợp tác nhóm giúp cho trẻ tăng các kỹ năng giao tiếp và các kỹ năng sống phù hợp thực tiễn [42]. 8 Tác giả Lê Minh Hoa (2015), nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh THCS qua hoạt động ngoài giờ lên lớp” đây là đề tài góp phần nâng cao năng lực hợp tác cho học sinh THCS qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, với việc hình thành các kỹ năng này, hiệu quả làm việc nhóm của học sinh tăng lên đáng kể [24]. Qua các công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác của các tác giả trong và ngoài nước, cho thấy các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ năng hợp tác. Đây là cơ sở tác giả tham khảo xây dựng khung lý luận cho nội dung tác giả đang nghiên cứu.
Các nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh thông qua trải nghiệm Vấn đề nghiên cứu về các kỹ năng hợp tác cho học sinh đã nhiều tác giả quan tâm, trong đó quan điểm nổi bật được thể hiện trong triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: Khả năng suy ngẫm, kỹ năng nghe, nói cần được nâng cao. Ngoài ra ở Nhật Bản, chú trọng năng lực giải quyết vấn đề của thực tiễn đời sống đặt ra thay vì đánh giá học sinh, sinh viên qua các môn học. Năm 2015, tác giả Bùi Ngọc Diệp có bài “Hình thức tổ chức các HĐTNST trong nhà trường phổ thông” [13] đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục số 113, 115; tác giả Đỗ Ngọc Thống có bài viết: “HĐTNST từ kinh nghiệm giáo dục quốc tế và vấn đề của Việt Nam” [46]; Đối với hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tác giả Đinh Thị Kim Thoa công bố nghiên cứu về xây dựng chương trình HĐTNST trong chương trình giáo dục phổ thông, trong đó tác giả đã đưa ra các quy trình xây dựng chương trình hoạt động trải nghiệm, Trong bài viết, tác giả đã đề xuất các biện pháp triển khai xây dựng chương trình trải nghiệm cho học sinh đạt hiệu quả cao[45]. Tác giả Huỳnh Thị Thu Nguyệt nghiên cứu luận văn thạc sĩ với đề tài “Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo hướng tổ chức HĐTNST”[36], 9 Tác giả Nguyễn Thu Hoài (2014), nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo giải pháp phát huy năng lực người học đã đề xuất quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông.
Đinh Thị Kim Thoa, nghiên cứu về mục tiêu năng lực, nội dung chương trình và cách đánh giá của hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đã xác định mục tiêu, đề xuất nội dung, các tiêu chí đánh giá mục tiêu năng lực hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông [26]. Tác giả Nguyễn Thanh Bình, đã đưa ra được khái niệm dạy học hợp tác, trong đó xây dựng và đưa ra các tiêu chí vận dụng mô hình học tập hợp tác ở trường THCS, đây là nội dung được tác giả công bố trong đề tài nghiên cứu cấp bộ về cải tiến tổ chức các hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác[7]. Ngoài ra, tác giải Nguyễn Hữu Châu trong cuốn sách bàn về những vấn đề cơ bản chương trình và quá trình dạy học đã đề cập đến hoạt động dạy học hợp tác, đặc biệt trong vấn đề này, tác giả đã sử dụng nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm phát huy tối đa kết quả học tập. Trong cuốn sách này, tác giả đã khẳng định: việc hợp tác trong học tập sẽ có khó hơn dạy học cá nhân, các thành viên trong nhóm phải biết đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, cùng nhau giải quyết mâu thuẫn và khẳng định rèn luyện kỹ năng học cá nhân, chính vì vậy, nội dung dạy học hợp tác trở thành mục tiêu kép trong dạy học [11] Tác giả Slavin R.
chỉ ra rằng, việc học cá nhân và học tranh đua, chỉ ra tầm quan trọng của kĩ năng học tập hợp tác và các nguyên tắc dạy học hợp tác. Đây là nội dung quan trong góp phần tích cực nâng cao hiệu quả làm việc [dẫn theo 27]. Tác giả Đặng Thành Hưng, nghiên cứu “Hệ thống kĩ năng học tập hiện đại” “Nhận diện và đánh giá kĩ năng”.,trong bài báo đã chỉ ra hệ thống các kỹ năng học tập trong môi trường hiện đại. Thông qua hệ thống kỹ năng học tập, tác giả cho thấy học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng 10 nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề.
Đây chính là những KNHT được tác giả nhận diện trong môi trường học tập hiện đại [27, tr18]. Từ việc tổng hợp, đánh giá các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề hợp tác và năng lực hợp tác phát triển năng lực hợp tác ở trường THCS, có thể khẳng định rằng: Các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu về vai trò của hợp tác và rèn kỹ năng hợp tác chưa đi sâu nghiên cứu về phát triển NLHT cho HS. Các nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm chưa chú trọng nhiều đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục HS theo hướng phát triển NL của người học.
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung khai thác hoạt động trải nghiệm như một con đường để rèn luyện các kỹ năng, giáo dục HS về đạo đức, môi trường, giới tính… chưa đặt ra vấn đề cần phát triển NLHT cho HS trong hoạt động trải nghiệm như thế nào.