Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên dạy môn khoa học tự nhiên tại các trường THCS, theo hướng hợp tác. Chương 2: Thực trạng quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên dạy môn khoa học tự nhiên tại các trường THCS tại huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh 7 Phúc theo hướng hợp tác. Chương 3: Biện pháp quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên dạy môn khoa học tự nhiên tại các trường THCS tại huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng hợp tác. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN TẠI CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƢỚNG HỢP TÁC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên Theo các tác giả Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Quốc Bảo, thì việc quản lý ĐNGV được quán triệt theo yêu cầu của phát triển nhân lực là: (i) đủ về số lượng nghĩa là số lượng GV đảm bảo cân bằng trong điều kiện GD cụ thể mỗi trường, với điều kiện kinh tế, nhưng thực tiễn thì đội ngũ này còn hạn chế tỷ lệ GV theo HS; (ii) GV phải đạt chuẩn chất lượng gồm chuẩn về trình độ chuyên môn; chuẩn về nghiệp vụ sư phạm; chuẩn về đạo đức; (iii) ĐNGV phải đồng bộ về cơ cấu: là sự tương thích về độ tuổi, giới tính, nghiệp vụ sư phạm và môn giảng dạy trong nhà trường [1]. Theo Đặng Bá Lãm thì quan niệm quản lý ĐNGV là: (i) Tăng trường về chất và lượng, điều này hữu ích cho quá trình chuẩn bị lực lượng trước sự biến chuyển của GD; (ii) Khi quản lý ĐNGV thì cần thực hiện đúng quy trình tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo và phát triển nghề; (iii) Xây dựng ĐNGV đồng bộ về cơ cấu, có chất lượng và số lượng đáp ứng với kế hoạch và nội dung yêu cầu giáo dục. Khi xây dựng bầu không khí sư phạm tập thể mỗi cá nhân đều phát huy được sức mạnh, trách nhiệm với nhà trường, thể hiện sự sáng tạo trong dạy học.
Nội dung công tác phát triển GV liên quan đến quy mô, cơ cấu, chất lượng đội ngũ GV [20]. Theo Nguyễn Thị Hồng Nam khi phát triển chuyên môn cho GV thì cần phải có tính đa dạng về hình thức phát triển chuyên môn; tiến hành khảo 9 sát nhu cầu tham gia của GV về chương trình BD, nội dung BD sát thực, đáp ứng nguyện vọng của GV, thể hiện các phương pháp BD hiện đại, có lý thuyết và thực hành hợp lý [26]. Tác giả Trương Xuân Cừ, vai trò của đội ngũ GV người DTTS trong trường PTDTNT rất quan trọng và yêu cầu về đội ngũ giáo viên phải là người DTTS, nếu không cũng phải biết tiếng dân tộc, chỉ có như vậy mới đảm bảo thực hiện tốt được nhiệm vụ giáo dục ở trường PTDTNT [13]. Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Khánh Tuấn (2006) “Các biện pháp quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên THCS trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trong quản lý sử dụng đội ngũ GV phải đảm bảo tính xã hội hóa, cần có sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác bồi dưỡng, đào tạo giáo viên; đồng thời phải bảo đảm tính dân chủ hóa để phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự tu dưỡng để phát triển cá nhân[35].
Tác giả Nguyễn Minh Chí (2011) với nghiên cứu “Giải pháp phát triển đôi ngũ giáo viên cấp THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh”. Bài viết đã phân tích thực trạng hầu hết các trường THCS tại địa bàn thành phố Hà Tĩnh còn thiếu quy hoạch cụ thể xây dựng ĐNGV. Một số giáo viên trẻ năng động, nhiệt tình trong công tác, ý thức tổ chức kỉ luật tốt, có kiến thức cơ bản, song kinh nghiệm chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm hạn chế nên lúng túng khi lên lớp, kiến thức cơ bản còn có chỗ chưa thật chính xác; việc cập nhật, tìm tòi, nghiên cứu thêm tài liệu sách báo chuyên môn thiếu chủ động; phương pháp dạy học, ứng xử sư phạm đôi lúc con chưa phù hợp. Những GV trẻ mới ra trường dự giờ đồng nghiệp còn e ngại, chưa hình thành được kĩ năng thiết kế bài dạy, cũng như kĩ năng lên lớp.
Một số giải pháp đề xuất: Các cấp QL cần có giải pháp xây dựng quy hoạch tổng thể về ĐNGV; Đổi mới công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho ĐNGV; 10 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại GV theo chuẩn GV trung học; Tăng cường công tác dự giờ, rút kinh nghiệm [10]. Tác giả Cao Nguyên Vũ (2016) với tiêu đề bài báo “Quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên THCS ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị đáp ứng chuẩn nghề nghiệp”. Bài báo nhận định: Sự chênh lệch khá lớn giữa ĐNGV trẻ (độ tuổi dưới 30, thâm niên công tác 1-10 năm) với các đội tuổi còn lại đã có ảnh hưởng khá lớn đến tính kế thừa giữa các thế hệ. Đây là yếu tố cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương, kế hoạch phát triển giáo dục THCS của thị xã.
Các biện pháp đề xuất là: Nâng cao nhận thức về chuẩn nghề nghiệp, giáo dục ý thức học tập, phấn đấu cho ĐNGV THCS; Xây dựng quy hoạch và tuyển dụng ĐNGV THCS đáp ứng CNN; Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV THCS đáp ứng CNN; Bố trí, sử dụng, luân chuyển ĐNGV; Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá ĐNGV THCS theo CNN; xây dựng điều kiện hỗ trợ để quản lý ĐNGV THCS theo CNN[37]. Tác giả Huỳnh Tố Chân (2018) với công trình “Một số biện pháp nâng cao năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên THCS nhằm đáp ứng yêu cầu của Chương trình GDPT mới”. Kết quả thu được cho thấy, tuy GV đã có những năng lực cần thiết để đáp ứng với yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nhưng số GV có năng lực đạt yêu cầu chỉ đạt trên dưới 20%; những năng lực đã có nhưng chưa đạt yêu cầu vẫn chiếm tỉ lệ khá cao (trên dưới 60%. Tỉ lệ GV chưa có các năng lực dạy học còn khá cao (nhất là các năng lực về phát triển chương trình (55%); năng lực dạy học theo phương thức trải nghiệm (42,3%); có 40,7% GV chưa có năng lực đổi mới, sáng tạo, cải tiến chất lượng dạy học và năng lực thích ứng với các điều kiện dạy học khác nhau[7].
Nghiên cứu về quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên theo hướng hợp tác Tác giả Michael Fullan: Tác giả của nhiều cuốn sách về lãnh đạo giáo dục, ông Fullan tập trung vào quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên thông qua 11 hợp tác, tạo ra môi trường học tập chung và xây dựng mạng lưới chuyên nghiệp [40]. Tác giả Andy Hargreaves: Tác giả nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý giáo dục, ông Hargreaves quan tâm đến việc xây dựng các động lực hợp tác trong đội ngũ giáo viên và khuyến khích sự chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm [40]. Theo Linda Lambert: Tác giả của cuốn sách "Leadership Capacity for Lasting School Improvement" (Năng lực lãnh đạo cho cải thiện bền vững của trường học), bà Lambert nghiên cứu về tạo ra một môi trường hỗ trợ và khích lệ đội ngũ giáo viên cùng hợp tác và phát triển chuyên môn [41]. Tác giả Roland Barth: Tác giả của cuốn sách "Improving Schools from Within" (Cải thiện trường học từ bên trong), ông Barth tập trung vào việc xây dựng quan hệ tương tác và hỗ trợ giữa các giáo viên, tạo điều kiện để họ hợp tác và chia sẻ kiến thức [43].
Theo PGS, TS. Ngô Văn Hà: Là tác giả của bài báo “Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay”, ông quan tâm đến việc nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy qua hoạt động nhóm [17]. - Tác giả Nguyễn Hữu Châu trong bài viết “Dạy học hợp tác” có đưa ra quan điểm sau: “Hợp tác nghĩa là cùng chung sức để đạt được những mục tiêu chung. Trong các tình huống hợp tác, cá nhân tìm kiếm những kết quả có ích cho họ và đồng thời cho cả các thành viên của nhóm.
Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác” [tr. Theo Phan Trọng Ngọ (2005) [2] thì: “Thảo luận theo nhóm nhỏ là phương pháp trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó. Theo Nguyễn Thị Phương Hoa (2005) thì: “Dạy – học hợp tác là một 12 chiến lược dạy – học tích cực, trong đó các thành viên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong những nhóm nhỏ (bao gồm các thành viên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết và chiếm lĩnh một nội dung học tập nào đó. Từ các nghiên cứu tổng quan có thể rút ra một số nhận xét chung như sau: - Thứ nhất, nghiên cứu về cá thể giáo viên đã giải quyết những vấn đề phát triển năng lực của giáo viên (kiến thức, kĩ năng và thái độ) với nhiều cách tiếp cận khác nhau như: tiếp cận theo chuẩn nghề nghiệp; tiếp cận theo giá trị; tiếp cận theo phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp.
- Thứ hai, nghiên cứu về quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên, bao gồm các công đoạn quy hoạch, kế hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, kiểm tra, đánh giá, chế độ chính sách đãi ngộ đối với giáo viên. - Thứ ba, kết quả nghiên cứu đã khẳng định vị thế, vai trò của giáo viên trong xu thế thời đại, trong thế giới phẳng cần chú ý đến phát triển năng lực cho cá nhân giáo viên; tạo cơ hội để cá nhân giáo viên phát triển năng lực hợp tác, năng lực tổ chức các hoạt động dạy học, năng lực công nghệ thông tin và năng lực phát triển nghề nghiệp. - Chưa có nhiều những nghiên cứu về đội ngũ giáo viên dạy môn KHTN và quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên dạy môn KHTN đáp ứng thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phù hợp với những địa bàn, vùng miền cụ thể. Và đó cũng chính là hướng nghiên cứu của đề tài này.
Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Giáo viên, đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở 1.