CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN THEO HƯỚNG KHÁM PHÁ TRI THỨC KHOA HỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Vấn đề quản lý sử dụng TBDH_KHTN trong các trường học đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, điều này thể hiện qua việc ban hành các văn bản sau: Điều 97 Luật Giáo dục Việt Nam năm 2019 đã khẳng định: Ưu tiên đầu tư tài chính và đất đai xây dựng trường học: Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đưa việc xây dựng trường học, công trình thể dục, thể thao, văn hóa, nghệ thuật phục vụ giáo dục vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương; ưu tiên đầu tư tài chính và đất đai cho việc xây dựng trường học và ký túc xá cho học sinh, sinh viên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội [18]. Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2021 - 2022 của Bộ Giáo dục: Số 3699/BGDĐT-GDTrH ngày 27/8/2021 đưa ra nhiệm vụ: Tăng cường cơ sở vật chất và TBDH, học liệu: Bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, TBDH, học liệu để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ năm học; đầu tư và tận dụng tối đa cơ sở vật chất của nhà trường để tổ chức dạy học nhiều hơn 06 buổi/tuần, bảo đảm chủ động, linh hoạt thực hiện chương trình trong bối cảnh ứng phó với tình hình dịch Covid-19 có diễn biến phức tạp. Bảo đảm phòng học và phòng chức năng phù hợp với các TBDH theo chương trình giáo dục trung học; tăng cường cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật để bảo đảm chất lượng việc dạy học và kiểm tra, đánh giá.
Trong tài liệu: “Lý luận dạy học ở trường THCS”[2] do Nguyễn Ngọc 8 Bảo và Trần Kiểm đã viết: Phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương pháp dạy học. Cùng với việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, hiện nay các trường THCS trên địa bàn thị xã đã được trang bị bổ sung nhiều phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại. Vì vậy GV cần phải nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy học kỹ thuật. Trong tài liệu:“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy-học ở trường phổ thông Việt Nam”, do Trần Quốc Đắc chủ biên, tác giả đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc quản lý sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của TBDH ở trường phổ thông.
Các tác giả nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người GV không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS” [8].
Từ những công trình nghiên cứu của các tác giả đã xây dựng được một hệ thống lý luận về vai trò, tác dụng của TBDH cũng như TBDH_KHTN với một số yêu cầu, nguyên tắc sử dụng nó trong quá trình dạy học. TBDH_KHTN được xác định là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học môn KHTN, nhất là ở cấp THCS, nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, thúc đẩy khả năng tìm tòi sáng tạo của học sinh. Lý luận về TBDH đã được 9 làm sáng tỏ trong nhiều công trình nghiên cứu và trong các giáo trình về lý luận quản lý dạy học. Mặc dù vậy, trong các hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu quản lý sử dụng TBDH_KHTN trong quá trình dạy học nói chung và trong các trường THCS thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, nói riêng chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Hoạt động quản lý hình thành từ sự phân công hợp tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức, cộng đồng. Với nhu cầu hướng đến hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn trong sự hợp tác lao động của cộng đồng đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, phân công, kiểm tra, điều chỉnh… Do đó, cấp thiết vai trò người quản lý. Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất.
Một số tác giả cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Một số tác giả khác cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức ” [7]. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, có sự hợp tác với nhau.
Sự phân công và hợp tác lao động nhằm mang đến hiệu quả cao hơn và phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra. có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người đứng đầu phối hợp với các thành viên trong tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra”. Tác giả Trần Khánh Đức cho rằng: “Quản lý là một hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp 10 hành động của một nhóm người hay cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh và những điều kiện nhất định” [11].
Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, nhiều tác giả đồng ý với quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [1]. Quản lý giáo dục Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì “ Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [17]. Theo tác giả Trần Kiểm thì: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [14]. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và các tác giả đã viết trong cuốn Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của trường Đại học Giáo dục thì: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý GD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra [15].
Như vậy, ta có thể hiểu bản chất của hoạt động quản lý GD, là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư 11 phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [12]. Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt nhằm thực hiện chức năng cơ bản là phát triển nhân cách con người của thế hệ sau hơn thế hệ trước theo hướng duy trì, phát triển xã hội. Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước – xã hội, là nơi trực tiếp làm công tác đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ.
Nó là tế bào cơ sở, chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào (từ trung ương đến địa phương). Như vậy, quản lý trường học là quản lý giáo dục trong một trường học cụ thể. Quản lý trường học là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, kế hoạch, hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến đội ngũ GV, nhân viên, các em HS, cha mẹ học sinh (CMHS), các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Khám phá tri thức khoa học cho học sinh Tri thức có vai trò hết sức quan trọng, góp phần tạo nên mọi thành tựu và tiến bộ trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại.
Không phải tự nhiên mà máy tính điện tử những công cụ hiện đại trong lĩnh vực công nghệ thông tin thời nay lại tự nhiên mà có để thay thế con người trong các hoạt động lao động trí óc. Nó ra đời dựa trên kết quả lao động trí óc, vận dụng nguồn tri thức và tài năng vốn có để người ta chế tạo ra. Bởi vậy nếu không có tri thức sẽ không có một xã hội phát triển phồn thịnh như hiện tại. Tri thức được phân thành tri thức thông thường và tri thức khoa học.